Ho Chi Minh City Community for  Trade Documentation, Compliance Advisory & AI Agro-Export Knowledge

Olympic Mascot – câu chuyện về những chú linh vật

Linh vật của mỗi kỳ Thế vận hội là biểu tượng của đất nước chủ nhà, thường gắn liền với văn hóa và con người nơi đây. Từ chú chó Dachshund Waldi đến những chú Phryges của Pháp, cùng khám phá thế giới những linh vật dễ thương, đôi khi cũng hơi kỳ cục của các kỳ Thế vận hội Mùa hè và Mùa đông.

Cùng dạo một vòng lịch sử để gặp gỡ những chú linh vật Olympic thú vị từ , Los Angeles 1932 đến Paris 2024

Smoky, Los Angeles 1932

Smoky, Los Angles 1932
Smoky, Los Angles 1932

Trước khi có khái niệm linh vật chính thức, Thế vận hội Mùa hè Los Angeles năm 1932 đã có một ngôi sao bất đắc dĩ: chú chó Scottish Terrier tên Smoky. Chú chó này sinh ra đúng ngày bắt đầu xây dựng làng vận động viên và sau đó cứ thế làm chủ khu vực này trong suốt thời gian diễn ra Thế vận hội.

Shuss, Grenoble 1968

Shuss, Grenoble 1968
Shuss, Grenoble 1968

Nhà thiết kế Aline Lafargue chỉ có vỏn vẹn một đêm để tạo ra một nhân vật đại diện cho Thế vận hội diễn ra ở thị trấn miền núi Alps của Pháp. Và thế là, chú người tuyết trượt tuyết Shuss với mái tóc đỏ, thân hình như tia chớp màu xanh và chiếc ván trượt mang tên "Shuss" (từ tiếng Pháp nghĩa là trượt tuyết xuống dốc) ra đời.

Mặc dù không phải là linh vật chính thức đầu tiên, nhưng Shuss đã trở thành hiện tượng với vô số móc khóa và đồ lưu niệm.

Waldi, Munich 1972

Waldi, Munich 1972
Waldi, Munich 1972

Linh vật Olympic chính thức đầu tiên xuất hiện tại Munich vào năm 1972, đó là chú chó Dachshund lấy cảm hứng từ một chú chó thật của một trong những nhà tổ chức. Nhà thiết kế đồ họa Elena Winschermann, thành viên của nhóm hỗ trợ nghệ sĩ nổi tiếng Otl Aicher, đã tạo ra một thiết kế với những vòng tròn màu xanh, vàng và xanh lá cây - ba trong số năm màu của vòng tròn Olympic. Hai màu còn lại là đỏ và đen cố tình bỏ qua để tránh liên tưởng đến lá cờ Nazi.

Schneemandl, Innsbruck 1976

Schneemandl, Innsbruck 1976
Schneemandl, Innsbruck 1976

Schneemandl có nghĩa là "người tuyết" trong tiếng Đức. Đây chính xác là hình dáng của linh vật cho Thế vận hội Mùa đông Innsbruck năm 1976. Được thiết kế bởi Walter Potsch, người tuyết này có một số điểm nhấn đặc trưng của đất nước chủ nhà, bao gồm chiếc mũ Tyrolean đỏ truyền thống.

Amik, Montreal 1976

Amik, Montreal 1976
Amik, Montreal 1976

Hải ly được chọn làm linh vật cho Thế vận hội Mùa hè Montreal 1976 - một lựa chọn hoàn hảo vì tầm quan trọng của loài này trong hệ sinh thái Canada và vai trò của lông hải ly trong lịch sử đất nước. Thực tế, hải ly đã được chính thức công nhận là động vật quốc gia của Canada vào năm trước khi Thế vận hội diễn ra.

Amik, có nghĩa là hải ly trong tiếng Algonquin – ngôn ngữ của nhiều dân tộc bản địa ở Canada.

Roni, Lake Placid 1980

Roni, Lake Placid 1980
Roni, Lake Placid 1980

Loài động vật nào phù hợp hơn để đại diện cho Thế vận hội Mùa đông Lake Placid 1980 ngoài con gấu mèo, một sinh vật quen thuộc với cư dân của dãy núi Adirondack ở phía bắc New York?

Tên Roni, được chọn bởi các em học sinh địa phương, có nghĩa là "gấu mèo" trong tiếng Iroquoian, dân tộc bản địa sinh sống ở khu vực này. Có 13 thiết kế của Roni tham gia các môn thể thao mùa đông khác nhau như một phần của chiến dịch quảng bá cho Thế vận hội.

Misha, Moscow 1980

Misha, Moscow 1980
Misha, Moscow 1980

Gấu Misha, hay còn gọi chính thức là Mikhail Potapych Toptygin, có nụ cười chào đón, một nỗ lực để giảm bớt căng thẳng thời Chiến tranh Lạnh giữa Liên Xô và phương Tây trong suốt thời gian diễn ra Thế vận hội Mùa hè. Misha vẫn là một biểu tượng được yêu thích ở Nga gần 50 năm sau đó.

Vučko, Sarajevo 1984

Vučko, Sarajevo 1984
Vučko, Sarajevo 1984

Người dân Nam Tư đã bình chọn cho Vučko the Wolf vượt qua 5 ứng cử viên khác – một con sóc chuột, một con dê núi, một con nhím, một con cừu và một quả cầu tuyết – để trở thành linh vật của Thế vận hội Sarajevo. Thiết kế chiến thắng của họa sĩ người Slovenia Joze Trobec đã tôn vinh những con sói từng lang thang qua những khu rừng của Alps và văn hóa dân gian Yugoslavia (Nam Tư cũ).

Sam, Los Angeles 1984

Sam, Los Angeles 1984
Sam, Los Angeles 1984

Một trong những ý tưởng ban đầu được xem xét cho linh vật của Thế vận hội Los Angeles 1984 là một con gấu, động vật biểu tượng của bang California, nhưng nó đã bị loại bỏ vì quá giống với Misha the Bear, linh vật nổi tiếng của Nga trong Thế vận hội Moscow trước đó. Nhóm 30 nhà thiết kế do Bob Moore dẫn đầu  đã quyết định chọn một biểu tượng quốc gia – đại bàng đầu trọc.

Mối lo ngại là vẻ ngoài tự nhiên của con chim sẽ quá dữ dằn đối với trẻ em, Moore đã chọn một vẻ ngoài hoạt hình hơn, hơi giống với chú vẹt hoạt hình Jose Carioca trong bộ phim "The Three Caballeros" năm 1944 của Disney.

Hidy và Howdy, Calgary 1988

Hidy and Howdy, Calgary 1988
Hidy and Howdy, Calgary 1988

Linh vật do Sheila Scott thiết kế cho Thế vận hội Mùa đông Calgary 1988 là một dấu mốc trong lịch sử Olympic: lần đầu tiên có linh vật là cặp đôi nam và nữ. Hai chú gấu bắc cực được đặt tên là Hidy (biến thể của chào hỏi "Hi") và Howdy (viết tắt của "how do you do"), thể hiện sự lịch thiệp đặc trưng của miền Tây Canada.

Chúng được khoác lên mình những chiếc mũ và trang phục theo phong cách phương Tây, tượng trưng cho tỉnh bang nổi tiếng với lễ hội đua ngựa Calgary Stampede - lễ hội rodeo ngoài trời lớn nhất thế giới.

Hodori, Seoul 1988

Hodori, Seoul 1988
Hodori, Seoul 1988

Hodori, linh vật cho Thế vận hội Mùa hè Seoul 1988, là sự kết hợp của hai từ tiếng Hàn: "Ho" (hổ) và "Dori" (bé trai). Hổ được chọn vì vai trò là linh vật bảo vệ trong văn hóa dân gian Hàn Quốc, và hơn nữa, họa sĩ Kim Hyun rất thích loài vật này.

“Cũng giống như nước Mỹ có đại bàng đầu trọc, Nga có gấu và Trung Quốc có gấu trúc,” Kim nói với Korea JoongAng Daily 30 năm sau, “một loài động vật có thể trở thành biểu tượng quốc gia và tài sản quý giá của đất nước.”

Magique, Albertville 1992

Magique, Albertville 1992
Magique, Albertville 1992

Khác biệt so với kiểu thiết kế linh vật dễ thương thông thường, Thế vận hội Mùa đông 1992 tại Albertville, Pháp, lại chọn một chú tiểu quỷ hình khối lập phương nằm trong một ngôi sao. Magique, có nghĩa là phép thuật trong tiếng Pháp, được khoác lên mình những màu sắc của quốc kỳ. Nhân vật này tượng trưng cho trí tưởng tượng.

Cobi, Barcelona 1992

Cobi, Barcelona 1992
Cobi, Barcelona 1992

Cobi, được đặt tên theo từ viết tắt của ủy ban tổ chức Olympic cho Barcelona (COOB), là một chú chó chăn cừu Pyrenees của Catalonia, một giống chó phổ biến ở đất nước này. Thiết kế của họa sĩ Javier Mariscal cho Thế vận hội Barcelona 1992 trở thành một trong những linh vật nổi tiếng nhất trong lịch sử Olympic.

Håkon và Kristin, Lillehammer 1994

Håkon and Kristin, Lillehammer 1994
Håkon and Kristin, Lillehammer 1994

Những linh vật người đầu tiên của Olympic xuất hiện vào năm 1994, cho Thế vận hội đầu tiên theo lịch trình mới của IOC là luân phiên giữa Mùa đông và Mùa hè. Tên của họ là Hakon và Kristen để vinh danh những nhân vật lịch sử của Na Uy: Håkon IV Håkonson, một vị vua trị vì vào thế kỷ 13, và Công chúa Kristin, dì của ông.

Cặp đôi này được mô tả là hai đứa trẻ tóc vàng mặc quần áo Viking, cho phép nhiều diễn viên nhí đóng vai Hakon và Kristin cho mục đích quảng cáo.

Izzy, Atlanta 1996

Izzy, Atlanta 1996
Izzy, Atlanta 1996

Izzy, linh vật của Thế vận hội Mùa hè 1996 có thể là linh vật được đón nhận ít nhiệt tình nhất trong lịch sử Olympic.

Snowlets, Nagano 1998

The Snowlets, Nagano 1998
The Snowlets, Nagano 1998

Một bộ sưu tập bốn chú cú tuyết, tượng trưng cho bốn năm giữa các kỳ Thế vận hội và bốn mùa. Sukki, Nokki, Lekki và Tsukki, được gọi chung là "Snowlets", kết hợp từ tiếng Anh "snow" (tuyết) và "let's" (hãy) - một lời mời tham gia.

Syd, Olly và Millie, Sydney 2000

Syd, Olly and Millie, Sydney 2000
Syd, Olly and Millie, Sydney 2000

Úc đã đầu tư lớn cho Thế vận hội 2000, sản xuất ra ba linh vật chính thức riêng biệt, mỗi con là một loài động vật bản địa của đất nước này. Syd, một con thú mỏ vịt được đặt tên theo thành phố chủ nhà Sydney; Olly là chim kookaburra được đặt biệt danh theo Olympics, và con thú mỏ ngắn được đặt tên là Millie, để kỷ niệm thiên niên kỷ mới. Chúng tượng trưng cho nước, không khí và đất.

Powder, Coal và Copper, Salt Lake City 2002

Powder, Coal, and Copper, Salt Lake City 2002
Powder, Coal, and Copper, Salt Lake City 2002

Được đặt tên tương ứng là Powder, Copper và Coal - con thỏ rừng, cáo đồng và gấu đen  - đại diện cho ba tài nguyên thiên nhiên chính của nền kinh tế Utah, với loài động vật nhỏ nhất tượng trưng cho bột tuyết của ngành công nghiệp khu nghỉ dưỡng trượt tuyết. Mỗi con đại diện cho một trong ba từ Latinh trong khẩu hiệu Olympic - Citius (nhanh hơn), Altius (cao hơn), Fortius (mạnh hơn). Và cuối cùng, chúng được cho là đại diện cho văn hóa dân gian của người Mỹ bản địa trong khu vực, vốn thấm nhuần những câu chuyện về những con vật đó.

Phevos và Athena, Athens 2004

Phevos and Athena, Athens 2004
Phevos and Athena, Athens 2004

Khi Thế vận hội trở lại quê hương cách đây 2.799 năm ở Olympia, nhà thiết kế Spiros Gogos đã tìm đến Hy Lạp cổ đại để lấy cảm hứng cho linh vật. Vì vậy, hai nhân vật dẫn dắt Thế vận hội Athens 2004 được tạo hình giống như những con búp bê đất sét cổ đại từng thịnh hành vào năm 776 trước Công nguyên, thời điểm diễn ra Thế vận hội đầu tiên. Linh vật nam và nữ được đặt tên là Phevos, một tên khác của Apollo, thần mặt trời, và Athena, nữ thần trí tuệ và nữ thần bảo trợ của Athens. Cả hai đều mặc những chiếc áo choàng nhiều màu sắc.

Một con cá ngựa tên Proteas đại diện cho Thế vận hội Paralympic.

Neve và Gliz, Turin 2006

Neve and Gliz, Turin 2006
Neve and Gliz, Turin 2006

Lựa chọn cho linh vật của Thế vận hội Mùa đông 2006 là những thiết kế đơn giản nhất: tuyết và băng. Đó là nguồn cảm hứng cho Neve, có nghĩa là tuyết trong tiếng Ý, và Gliz, viết tắt của "Ghiaccio" hay băng. Các nhân vật nam và nữ có một quả cầu tuyết và một khối băng cho phần đầu tương ứng, và những chi giống như Gumby cho phép họ tạo dáng cho bất kỳ môn thể thao nào tại Thế vận hội Mùa đông.

Beibei, Jingjing, Huanhuan, Yingying, Nini, Bắc Kinh 2008

Beibei, Jingjing, Huanhuan, Yingying, Nini, Beijing 2008
Beibei, Jingjing, Huanhuan, Yingying, Nini, Beijing 2008

Thế vận hội Mùa hè Bắc Kinh có đến năm linh vật biểu tượng. Mỗi linh vật đại diện cho một trong năm nguyên tố tự nhiên: Beibei là con cá màu xanh đại diện cho nước, Jingling là con gấu trúc đen tượng trưng cho rừng; Huanhuan là đứa trẻ đỏ là hiện thân của lửa; Yingying là con linh dương vàng đại diện cho trái đất; và Nini là con én xanh đại diện cho bầu trời. Cùng nhau, chúng cũng phù hợp với màu sắc của các vòng tròn Olympic.

Quatchi và Miga, Vancouver 2010

Quatchi and Miga, Vancouver 2010
Quatchi and Miga, Vancouver 2010

Ba con vật thần thoại được lấy từ truyền thuyết của người bản địa ở British Columbia. Miga, một sinh vật biển thần thoại là sự kết hợp giữa cá voi sát thủ và gấu, và Quatchi, một nhân vật thần thoại, là linh vật của Olympic, trong khi Sumi, một thần bảo vệ động vật của núi, là linh vật Paralympic.

Wenlock, London 2012

Wenlock, London 2012
Wenlock, London 2012

Tên Wenlock, linh vật của Thế vận hội, xuất phát từ thị trấn Much Wenlock ở Shropshire, cách London khoảng 150 dặm, nơi sinh của William Penny Brook, một nhân vật chủ chốt trong sự hồi sinh của Thế vận hội Olympic vào cuối thế kỷ 19. Mandeville, nhân vật đại diện cho Thế vận hội Paralympic lấy tên từ thị trấn Stoke Mandeville, nơi diễn ra Thế vận hội Paralympic đầu tiên.

The Hare, the Polar Bear, and the Leopard, Sochi 2014

The Hare, the Polar Bear, and the Leopard, Sochi 2014
The Hare, the Polar Bear, and the Leopard, Sochi 2014

Một cuộc thi toàn quốc kết thúc bằng một đêm chung kết truyền hình năm 2011 đã sản xuất ra ba linh vật cho Thế vận hội Mùa đông Sochi 2014: Một con thỏ (the Haze), một con gấu bắc cực (the Polar Bear) và một con báo (the Leopard), được thiết kế bởi Silviya Petrova, Oleg Seredechniy và Vadim Pak. Không một trong số các linh vật động vật nào được đặt tên, một điều hiếm thấy trong lịch sử linh vật Olympic, nhưng mỗi con đại diện cho động vật hoang dã của khu vực.

Vinicius, Rio 2016

Vinicius, Rio 2016
Vinicius, Rio 2016

Thay vì chọn một loại động vật địa phương để đại diện cho Thế vận hội Rio, ban tổ chức đã chọn cách tổng hợp nhiều ý tưởng vào một linh vật. Vinicius, được thiết kế bởi Birdo Productions để trở thành sự kết hợp giữa chim, khỉ, mèo và nhân vật trò chơi điện tử, được đặt tên theo Vinicius de Moraes, nhà thơ và nhạc sĩ nổi tiếng người Brazil, người đã sáng tác bài hát hit “The Girl From Ipanema”.

Soohorang, PyeongChang 2018

Soohorang, PyeongChang 2018
Soohorang, PyeongChang 2018

Sau thành công của Hodori, linh vật hổ của Thế vận hội Mùa hè Seoul 20 năm trước, ban tổ chức Thế vận hội PyeongChang đã chọn một phần tiếp theo. Soohorang, linh vật của Thế vận hội Mùa đông 2018 là một con hổ trắng cách điệu, một biểu tượng bảo vệ trong văn hóa Hàn Quốc.

Tên gọi xuất phát từ sự kết hợp của từ tiếng Hàn có nghĩa là “bảo vệ” và chữ cái giữa trong từ “hổ”. Mặc dù hổ có một vị trí đặc biệt trong văn hóa dân gian Hàn Quốc, nhưng những con hổ có lông trắng được coi là đặc biệt quan trọng, vì màu sắc của chúng là dấu hiệu cho thấy chúng đã đạt được sự hiểu biết thực sự về ý nghĩa của cuộc sống.

Miraitowa, Tokyo 2020

Miraitowa, Tokyo 2020
Miraitowa, Tokyo 2020

Miraitowa, linh vật của Olympic, lấy tên từ sự kết hợp của các từ tiếng Nhật có nghĩa là "tương lai" và "vĩnh cửu", nhằm dự báo một sự lạc quan vĩnh cửu cho thế giới sắp tới. Someity, linh vật của Paralympic, được đặt tên theo một loại hoa anh đào, nhưng cũng nhằm gợi lên âm thanh của từ tiếng Anh "so mighty" (rất mạnh mẽ).

Bing Dwen Dwen, Bắc Kinh 2022

Bing Dwen Dwen, Beijing 2022
Bing Dwen Dwen, Beijing 2022

Bing Dwen Dwen, một con gấu trúc mặc bộ đồ phi hành gia làm bằng băng, đã trở nên đáng nhớ theo cách riêng của mình. Tên gọi là sự kết hợp của Bing, nghĩa là "băng", và Dwen Dwen, một thuật ngữ yêu mến dành cho trẻ em. Linh vật được thiết kế như một sự tán thưởng cho việc ưu tiên công nghệ và du hành vũ trụ của Trung Quốc trong thế kỷ 21.

Phryges, Paris 2024

The Phryges, Paris 2024
The Phryges, Paris 2024

Phryges (phát âm là free-jee-us) là linh vật  của Thế vận hội Paris mùa hè này - dựa trên những chiếc mũ được đội trong cuộc Cách mạng Pháp như một biểu tượng của tự do và có ý nghĩa sâu sắc trong văn hóa của đất nước. Mặc trang phục màu đỏ, trắng, xanh của quốc kỳ Pháp.

Nhớ lại tuổi thơ dữ dội của những đứa trẻ 9x, chắc chắn không thể thiếu Beanie Babies, Tamagotchi (máy game nuôi gà ảo) và Pokemon. Chúng đổ bộ vào thế giới đồ chơi những năm 1990 với tốc độ chóng mặt, khiến các bậc phụ huynh phải đến những cửa hàng đồ chơi để săn cho bằng được chú Beanie Babies hot nhất, hay lá bài Pokemon mà con mình ao ước.

Nhưng trong khi số phận của những món đồ chơi kia chỉ là những cơn sốt thoáng qua, thì Pokemon lại là một trường hợp hoàn toàn khác. Thay vì chìm vào quên lãng, Pokemon ngày càng phát triển. Thương hiệu không ngừng tung ra các sản phẩm mới, mở rộng sang nhiều thị trường hơn, và cho đến tận ngày nay, sức hút của nó vẫn chưa hề giảm nhiệt.

Đâu là bí mật để một thương hiệu đồ chơi có thể duy trì độ nổi tiếng suốt hơn 25 năm? Hãy cùng lật lại dòng thời guan để khám phá hành trình ra đời của thương hiệu huyền thoại này, và lý do vì sao Pokemon vẫn giữ được sự thu hút cho đến tận bây giờ!

Bắt đầu hành trình với Pokemon

Quay ngược thời gian về năm 1996, chúng ta sẽ gặp gỡ một trò chơi điện tử không chỉ đơn thuần là giải trí - Pokemon. Ý tưởng về Pokemon đến với người chuyên “rì viu” game, sau này trờ thành nhà phát triển game người Nhật Bản. Ông Satoshi Tajiri là cha đẻ của Pokemon - từ chính những thú vui thời thơ ấu của ông. Khi còn bé, Satoshi rất thích bắt ếch nhái và côn trùng quanh nhà mình ở Tokyo. Lấy cảm hứng từ đó, ông hợp tác với Ken Sugimori cùng các nhà thiết kế khác để thành lập Game Freak, với mong muốn mang đến cho trẻ em niềm vui tương tự như những gì ông đã từng trải nghiệm.

Ngoài sở thích thời thơ ấu, Satoshi còn được truyền cảm hứng từ một chương trình truyền hình có tên Ultra Seven. Trong chương trình này, Ultraman chiến đấu chống lại kẻ xấu với sự trợ giúp của những con quái vật khổng lồ. Ban đầu, Satoshi đặt tên cho trò chơi gốc của mình là "Capsule Monsters" nhưng Nintendo đã từ chối ý tưởng này.

Mặc dù ban đầu Nintendo chưa hiểu mục đích của trò chơi, nhưng cuối cùng họ cũng đồng ý tài trợ cho việc phát triển game dưới sự hợp tác của Shigeru Miyamoto - người đã tạo ra The Legend of Zelda và Mario. Nintendo cho Satoshi 6 năm để phát triển trò chơi đầu tiên, và Capsule Monsters chính thức trở thành Pokemon vào cuối quá trình phát triển. Cái tên Pokemon được lựa chọn vì Nintendo có một số lo ngại về thương hiệu và bản quyền với tên gốc của Satoshi.

Sau khi trò chơi điện tử bùng nổ, Pokemon đã mở rộng thương hiệu sang các sản phẩm khác như thẻ bài, đồ chơi, sách, truyện tranh và anime. Ngày nay, tổng doanh thu của thương hiệu đã vượt qua 1 tỷ đô la Mỹ!

1982: Ý tưởng Pokemon ra đời khi làm “rì viu” về game

Du hành ngược thời gian một chút, quay lại năm 1982. Chắc hẳn các bạn không ngờ, hành trình của Pokemon lại bắt đầu từ một tạp chí game!

Satoshi Tajiri, cha đẻ của Pokemon, cùng những người bạn đã thành lập Game Freak. Với niềm đam mê cháy bỏng dành cho game thùng (game arcade), ông ấy đã tự mình tạo nên một tạp chí game. Tạp chí này bao gồm cả bài đánh giá và những bí mật thú vị về các trò chơi khác nhau.

Tạp chí Game Freak  chuyên rì viu  (“review”) các trò chơi điện tử đình đám.

Nhưng chỉ viết về game thôi thì chưa đủ thỏa sức đam mê, Satoshi ấp ủ ước mơ to lớn là tự tay tạo ra những thế giới ảo cho mọi người thỏa sức khám phá. Game Freak lột xác, từ một “chiến thần rì viu” biến thành nhà sản xuất game chính hiệu. Họ cho ra đời hàng loạt trò chơi đình đám như Yoshi, Mario và Wario, hay Pulseman.

1996: Pokemon có mặt từ trò chơi đến thẻ bài

Lấy cảm hứng từ những ngày thơ bé rong chơi bắt côn trùng, tắm mát bên ao nhà, Satoshi đã thổi hồn vào thế giới Pokemon. Trò chơi điện tử đầu tiên có tên "Pokemon Red" và "Pokemon Green" được thiết kế dành cho máy cầm tay, với những băng hình nhỏ xíu nhưng chứa đựng cả một vũ trụ rộng lớn.

Năm 1996 đánh dấu cột mốc quan trọng - Pokemon chính thức ra đời!

Ngay từ khi được thành lập vào năm 1996, Pokemon đã xây dựng được một vũ trụ giả tưởng cho người chơi. Mỗi người chơi có thể chọn một nhân vật là "Huấn luyện viên Pokemon". Nhân vật này được xây dựng dựa trên tính cách của người chơi và hoàn toàn độc đáo. Nhiệm vụ của huấn luyện viên là đi vào thế giới Pokemon để thu thập tất cả các nhân vật Pokemon. Khi bắt được các Pokemon khác nhau, nhân vật/huấn luyện viên sẽ xây dựng được đội quân của mình để chiến đấu với các nhân vật Pokemon khác.

Các nhân vật trong thế giới Pokemon đã trở thành biểu tượng văn hóa đại chúng. Bạn có thể dễ dàng bắt gặp thương hiệu này trên phim ảnh, báo chí, bìa tạp chí, hay thậm chí là các công viên giải trí. Pokemon hiện là một trong những biểu tượng của thế giới trò chơi điện tử phổ biến nhất từng được tạo ra, chỉ xếp sau biểu tượng Super Mario Bros huyền thoại.

1997: Pokemon chiếm sóng thế giới phim hoạt hình

Năm 1997, loạt phim hoạt hình Pokemon được ra mắt, tiếp nối thành công của trò chơi và thẻ bài. Bộ phim kể về hành trình của Satoshi, sau này đổi tên thành Ash Ketchum, cùng người bạn đồng hành Pikachu, với ước mơ trở thành bậc thầy Pokemon. Cho đến nay, Pokemon đã sản xuất hơn 1.000 tập phim hoạt hình, đưa người xem phiêu lưu khắp vùng đất Kanto và hơn thế nữa.

1998: Pokemon bùng nổ bên ngoài Nhật Bản

Cơn sốt Pokemon không chỉ dừng lại ở Nhật Bản. Năm 1998, "Pokemon Red" và "Pokemon Blue" đổ bộ nước Mỹ, chinh phục hàng triệu trái tim trẻ em. Sau đó, nước Anh cũng không thể cưỡng lại sức hút của những chú Pokemon đáng yêu.

Trò chơi ban đầu được phát triển và thiết kế cho máy chơi game Game Boy của Nintendo - Chỉ cần một sợi cáp nối hai máy Game Boy, những người bạn đã có thể cùng nhau du hành bắt Pokemon.

Khi cơn sốt Pokemon lan rộng, trò chơi đã được mở rộng sang nhiều sản phẩm và nền tảng khác nhau để tiếp cận đến nhiều người chơi hơn.

Cùng thời điểm, thẻ bài Pokemon ra đời với 102 lá bài đầu tiên, vẽ nên hình ảnh các nhân vật do chính họa sĩ Ken Sugimori, Keiji Kinebuchi và Mitsuhiro Arita sáng tạo. Giống như trò chơi điện tử, cơn sốt thẻ bài Pokemon nhanh chóng lan rộng toàn cầu, biến việc trao đổi, sưu tập và thi đấu thẻ bài thành thú vui tao nhã của trẻ em thời ấy.

2016 – 2018: Pokemon GO tái định vị thương hiệu game

Những tưởng Pokemon chỉ tập trung vào game, thẻ bài và hoạt hình, nhưng không! Năm 2016, thương hiệu Pokemon táo bạo lấn sân sang thị trường game mobile với Pokemon GO.

Sử dụng công nghệ thực tế ảo (AR), Pokemon GO cho phép người chơi "bắt Pokemon" ngay tại thế giới thực, biến những con phố quen thuộc thành vùng đất Kanto sôi động. Ngay khi ra mắt, Pokemon GO đã "phá đảo" các bảng xếp hạng về lượt tải, cho đến nay, con số này đã vượt quá 1 tỷ lượt!

Năm 2018, Pokemon lại cho ra mắt 1 phiên bản mới so với những trò chơi gốc. Pokemon Let's Go Pikachu và Let's Go Eevee ra đời, khoác lên mình diện mạo mới mẻ, cho phép người chơi ném bóng Pokeball bằng chính tay cầm điều khiển Nintendo Switch. Thậm chí, với một phụ kiện đặc biệt, bạn còn có thể dắt Pokeball đi dạo, khiến trải nghiệm game thêm phần chân thực.

Thương hiệu Pokemon - Vẫn cuồng nhiệt như thuở nào

Hơn 30 năm sau khi ra mắt, Pokemon vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Vào năm 2016, nhân kỷ niệm 20 năm, Pokemon tung ra cú hích "Pokemon GO" - trò chơi di động đình đám. Đây chính là minh chứng cho việc Pokemon không bao giờ ngủ quên trên chiến thắng. Cùng năm đó, Pokemon hợp tác với đế chế Nintendo Switch cho ra mắt hàng loạt tựa game mới, tiếp tục khuấy động thế giới trò chơi điện tử .

Pokemon chinh phục người chơi ở mọi lứa tuổi. Với những người hâm mộ cũ, Pokemon gợi lại ký ức tuổi thơ tươi đẹp. Còn với thế hệ game thủ mới, Pokemon mang đến những trải nghiệm mới mẻ và thú vị.

Kể từ phiên bản đầu tiên, bộ sưu tập Pokemon đã chào đón thêm hơn 10 tựa game mới nhất, với những phiên bản gần đây là Pokemon Legends: ArceusPokemon Scarlet & Violet. Bên cạnh đó, hơn 30 tỷ thẻ bài Pokemon đã được trao đổi, mua bán trên toàn thế giới. Cho đến nay, hành trình của bạn sẽ là chinh phục 898 chú Pokemon đáng yêu!

Thành tích thương mại của Pokemon cũng khiến người ta choáng ngợp. Hơn 279 triệu trò chơi đã được bán ra, và The Pokemon Company thu về 1.5 tỷ đô la mỗi năm - một con số khổng lồ khẳng định sức mạnh của đế chế thương hiệu Pokemon.

Nintendo - ông vua trong làng game chắc không ai là không biết! Đây là công ty của xứ sở hoa anh đào, ra đời từ năm 1889, nổi tiếng nhất với các máy chơi game và trò chơi "huyền thoại". Nhờ đó, Nintendo đã thống trị ngành công nghiệp game nhiều thập kỷ, tạo ra dàn nhân vật huyền thoại như Mario, Donkey Kong, Link và các seri game đình đám như Pokemon, The Legend of Zelda, Animal Crossing. Nintendo còn mở rộng sang cả mảng khác như xâ dựng công viên giải trí, phim ảnh và chương trình truyền hình.

Trải qua lịch sử lâu đời, Nintendo vẫn không ngừng sáng tạo và cho ra mắt các sản phẩm mới dành cho fan hâm mộ. Đây là thương hiệu được nhiều người yêu thích và trở thành cái tên quen thuộc trong mọi nhà, phát triển cực kỳ thành công và giờ đây là một trong những thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới.

Nintendo: sản phẩm thống trị làng game toàn cầu

Nintendo – thương hiệu vang danh không chỉ ở Nhật Bản mà còn làm mưa làm gió trên toàn thế giới! Đây là ông vua của thế giới game, được thành lập từ năm 1889, tính đến nay đã chinh chiến và gặt hái thành công rực rỡ trong ngành công nghiệp trò chơi điện tử.

Nintendo thực chất là một từ tiếng Nhật, bắt nguồn từ cụm từ "nin ten do", nghĩa là "giao phó vận may cho trời".

Bắt đầu từ những năm 1970, Nintendo đã bước sang sản xuất máy chơi game console và máy chơi game cầm tay, tiêu biểu là dòng Color TV Game và Game & Watch. Năm 1983, Nintendo ra mắt Famicom - tiền thân của huyền thoại Nintendo Entertainment System (NES). NES chính thức đổ bộ vào thị trường Mỹ vào năm 1985 và hiện tại đã bán được hơn 60 triệu bản trên toàn thế giới.

Chưa dừng lại ở đó, năm 1989, Nintendo tiếp tục cho ra đời Game Boy - máy chơi điện tử cầm tay đầu tiên sử dụng băng game. Game Boy chính là cú hích lớn, bán được hơn 118 triệu máy trên toàn cầu.

Không lâu sau đó, đế chế Nintendo được củng cố vững chắc hơn với sự ra đời của Super Nintendo Entertainment System (SNES) vào năm 1990.

SNES cũng là một bom tấn trong ngành công nghiệp game với hơn 50 triệu máy được bán ra.

Suốt những thập niên 1990 và 2000, Nintendo liên tục cho ra đời hàng loạt thiết bị chơi game như Nintendo 64, GameCube, Game Boy Advance, Nintendo DS và Wii. Hiện tại, Nintendo Switch chính là đứa con cưng của hang, với hơn 55 triệu máy được bán ra toàn thế giới. Nintendo vẫn miệt mài sáng tạo những trải nghiệm chơi game độc đáo và xứng đáng là cái tên nổi bật nhất nhì trong ngành công nghiệp game.

Nintendo: Đế chế sản sinh những biểu tượng bất hủ

Nintendo: Đế chế sản sinh những biểu tượng bất hủ
Nintendo: Đế chế sản sinh những biểu tượng bất hủ

Không phải ngoa khi nói đây là nơi sản sinh ra những tựa game huyền thoại gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ . Cứ nhắc đến Nintendo là người ta lại nhớ ngay đến những cái tên như an hem nhà Mario và Luigi, chàng hiệp sĩ Link (The Legend of Zelda), Animal Crossing, Pokemon, và  những trận chiến nảy lửa trong Super Smash Bros. hay những buổi đua xe vui nhộn của tựa game Mario Kart).

Mỗi trò chơi là một thế giới riêng, mang đến những trải nghiệm thú vị, cuốn hút hàng triệu người chơi trên toàn thế giới. Cho đến tận bây giờ, sức hút của những trò chơi này vẫn chưa hề giảm sút, xứng đáng là những tựa game “quốc dân" của mọi thời đại.

Logo Nintendo: Từ kiểu cách đến biểu tượng vượt thời gian

Một trong những lý do lớn nhất khiến Nintendo "bền vững" như vậy chính là nhờ chiến lược marketing không đụng hàng và logo siêu chất của mình. Logo của Nintendo trải qua hành trình đổi mình như một cuộc phiêu lưu vừa sang trọng, lại vừa sặc sỡ .

Trải qua thời gian, logo Nintendo đã có nhiều lần thay áo kể từ năm 1889, phần lớn đều là kiểu logo dạng chữ. Mỗi lần thay đổi đều đánh dấu một bước tiến mới, giúp logo trở thành biểu tượng dễ nhận biết của thương hiệu như ngày nay.

1889 - 1950: Logo đơn giản và ý nghĩa

Logo Nintendo 1889 - 1950
Logo Nintendo 1889 - 1950

Logo đầu tiên của Nintendo, xuất hiện vào năm 1889, có hình chữ nhật với phần trên màu đỏ và phần dưới chứa các ký tự tiếng Nhật màu xanh đậm. Đỏ tượng trưng cho may mắn và niềm vui trong văn hóa Nhật Bản, còn xanh lam thể hiện sự tin tưởng và đáng tin cậy. Logo ra đời với mong muốn phản ánh cam kết của công ty trong việc tạo ra các sản phẩm chất lượng, mang đến niềm vui cho mọi người.

1950 - 1960: Bước chuyển mình ngoạn mục

Logo Nintendo 1950 - 1960
Logo Nintendo 1950 - 1960

Logo thứ 2 của Nintendo, ra đời năm 1960, là một biểu tượng hình con bích đen trắng. Thiết kế này nhằm tôn vinh nguồn gốc của hãng - nhà sản xuất bài Tây. Lựa chọn tông đen trắng thể hiện sự đơn giản và tinh tế của thương hiệu, còn hình con bích tượng trưng cho truyền thống. Logo cũng nhấn mạnh sự tin tưởng và đáng tin cậy - điều cần thiết khi Nintendo chuyển mình từ nhà sản xuất bài Tây thành ông vua đình đám trong làng game

1960 - 1964: Gọn mà chất

Logo Nintendo 1960-1964
Logo Nintendo 1960-1964

Logo năm 1960 của Nintendo là minh chứng tiêu biểu của chủ nghĩa tối giản. Kiểu chữ viết tay màu đen thanh lịch trên nền trắng tạo cảm giác sang trọng và gọn gàng. Lựa chọn màu sắc mang ý nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho giá trị cốt lõi của thương hiệu: giản đơn và tinh tế.

1964 - 1965: Đỏ rực rỡ - Năng lượng bất tận

Logo Nintendo 1964-1965
Logo Nintendo 1964-1965

Sau 4 năm, Nintendo quyết định thay đổi lần nữa. Logo lần này đánh dấu cam kết đổi mới và sáng tạo của hãng. Màu sắc tươi sáng phản ánh sự vui nhộn và hào hứng mà các trò chơi Nintendo mang đến cho người chơi ở mọi lứa tuổi.

1964 - 1967: Trở về với đen và trắng

Logo Nintendo 1964-1967
Logo Nintendo 1964-1967

Cùng thời điểm với logo đỏ rực rỡ và đầy năng lượng, phiên bản đen trắng cũng được sáng tạo thêm - trở thành biểu tượng của ngành công nghiệp game!

1965 - 1967: Đơn giản nhưng chuyên nghiệp

Logo Nintendo 1965-1967
Logo Nintendo 1965-1967

Logo đen trắng năm 1965 của Nintendo là một biểu tượng trong làng game. So với phiên bản 1964, logo năm 1965 gọn gàng và chuyên nghiệp hơn hẳn.

1966 - 1970: Phong cách cổ điển và vòng tròn đỏ

Logo Nintendo 1966-1970
Logo Nintendo 1966-1970

Logo Nintendo hình tròn màu đỏ năm 1966 là một biểu tượng đồng hành cùng hãng trong nhiều năm. Logo gồm hai chữ cái lồng trong một vòng tròn đỏ chói. Mục đích của logo này là đại diện cho thương hiệu Nintendo và trở thành biểu tượng dễ nhận biết của công ty. Logo mang phong cách retro cổ điển được nhiều người yêu thích.

1967 - 1975: Tên Nintendo là đủ

Logo Nintendo 1967-1975
Logo Nintendo 1967-1975

Logo Nintendo năm 1967 đơn giản nhưng hiệu quả với tên công ty được viết màu đỏ trên nền trắng. Logo được thiết kế gọn gàng và sành điệu, thu hút sự chú ý và tạo hình ảnh công ty đáng nhớ. Mục đích chính là tạo ra hình ảnh dễ nhận biết và lâu dài, gắn liền với chất lượng hàng đầu.

1968 - 1970: Biểu tượng lục giác

Logo Nintendo 1968-1970
Logo Nintendo 1968-1970

Logo Nintendo năm 1968 khá giống logo 1967 nhưng có một vài điểm khác biệt. Logo được đặt trong khung hình lục giác, màu đỏ đặc trưng và rực rỡ hơn logo trước đó. Mục đích là thể hiện hình ảnh tích cực của công ty và mang đến vẻ ngoài độc đáo, dễ nhận biết.

1970 - 1975: Biến tấu

Logo Nintendo 1970-1975
Logo Nintendo 1970-1975

Logo Nintendo năm 1970 là một thiết kế thanh lịch, đơn giản nhưng nổi bật. Tên Nintendo màu đỏ được đặt trong một hình lục giác tròn, hẹp.

1975 - Hiện tại: Biểu tượng bất hủ

Logo Nintendo 1975-Hiện tại
Logo Nintendo 1975-Hiện tại
Logo Nintendo 2016-Hiện tại
Logo Nintendo 2016-Hiện tại

Logo hiện tại của Nintendo là sự kết hợp hoàn hảo giữa hai phiên bản trước, thể hiện cam kết về chất lượng và đổi mới của Nintendo. Logo cũng tượng trưng cho di sản của công ty. Đây là cách tuyệt vời để thể hiện cam kết của công ty đối với khách hàng và ngành công nghiệp game.

Nintendo: Ý nghĩa “Tùy duyên" nhưng vẫn bách chiến bách thắng

Nintendo - cái tên nổi tiếng trong làng game lại mang ý nghĩa khá bất ngờ! "Nintendo" thực chất là một từ tiếng Nhật, bắt nguồn từ cụm từ "nin ten do", nghĩa là "giao phó vận may cho trời".

Nghe thì có vẻ phó mặc cho số phận nhưng Nintendo lại là minh chứng cho thành công nhờ những tư duy sáng tạo và những bước đi vững chắc của mình. Nintendo đã trở thành ông vua trong ngành công nghiệp game, là “gương mặt quen mặt" và tạo ảnh hưởng sâu sắc đến cộng đồng game thủ ngày nay.

Không “tùy duyên” vào sự may rủi, Nintendo chinh phục tất cả bằng chất lượng, sự sáng tạo và những câu chuyện hấp dẫn mà mỗi trò chơi mang lại. Nintendo - cái tên gắn liền với thế giới trò chơi điện tử giải trí đầy sụ vui vẻ" - đúng là “không cần may mắn” vẫn "bách chiến bách thắng".

Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng có ít nhất một ký ức về LEGO: nào là xây tòa lâu đài LEGO đầu tiên, lần đầu đặt chân vào cửa hàng LEGO, chiêm ngưỡng tượng LEGO khổng lồ ngoài đời thực, hay thậm chí là dẫn con đi xem phim hoạt hình LEGO. Những viên gạch LEGO xinh xắn, đầy màu sắc này đã trở thành một phần tuổi thơ không thể nào quên.

LEGO không chỉ là đồ chơi, mà còn tượng trưng cho khả năng sáng tạo vô hạn. Giống như những điều kỳ diệu mà các khối gạch LEGO mang lại, thương hiệu LEGO cũng không ngừng sáng tạo để phát triển và khẳng định vị thế của mình.

Không chỉ nổi tiếng với những viên gạch thần kỳ trong ngành công nghiệp đồ chơi, thương hiệu LEGO cũng "lừng danh" trên bản đồ thế giới. Dù bạn là fan cứng hay chưa nghe đến LEGO bao giờ, thì bài viết này cũng sẽ mang đến cho bạn những kiến thức thú vị về quá trình phát triển của thương hiệu LEGO. Cùng khám phá nào!

LEGO: Biểu tượng tuổi thơ của cả thế giới

Nhắc đến LEGO, cả một tuổi thơ chơi xếp hình ùa về, đúng không nào? Những viên gạch LEGO nhỏ bé không chỉ là đồ chơi mà còn là cả một thế giới sáng tạo, thôi thúc trí tưởng tượng bay cao bay xa.

Ra đời từ năm 1932 bởi Ole Kirk Kristiansen, LEGO ban đầu chỉ là một công ty sản xuất đồ chơi. Tuy nhiên, chỉ 4 năm sau (1936), những viên gạch LEGO đầu tiên đã chính thức trình làng. Cái tên LEGO bản thân nó có nghĩa là "chơi thì phải vui" trong tiếng Đan Mạch - thể hiện triết lý cốt lõi của thương hiệu:

Mang đến niềm vui cho trẻ em thông qua việc “chơi mà học”.

Trải qua nhiều năm phát triển, LEGO không ngừng đổi mới, từ việc mở rộng sản phẩm, bổ sung màu sắc cho các khối gạch đến hợp tác với nhiều tổ chức và lấn sân sang lĩnh vực giải trí đa phương tiện. Không ngoa khi nói LEGO là "tuổi thơ" của cả thế giới, liên tục bỏ túi các giải thưởng danh giá, trong đó có cả danh hiệu "Đồ chơi sáng tạo nhất" do nhiều ấn phẩm bình chọn.

Với vô số chủ đề và lựa chọn đa dạng, LEGO có thể đảm bảo câu nói "chơi hoài không biết chán". Đây mới chỉ là phần mở đầu, hãy cùng khám phá sâu hơn về hành trình "lột xác" của những viên gạch LEGO huyền thoại nhé!

1932-1936: Đế chế đồ chơi hình thành từ xưởng mộc

Biểu tượng LEGO thời kỳ đầu
Biểu tượng LEGO thời kỳ đầu

Chắc hẳn nhiều bạn sẽ bất ngờ, nhưng LEGO đã có mặt trên thế giới gần 90 năm rồi đấy! Bắt đầu từ năm 1932, người thợ mộc tài hoa Ole Kirk Kristiansen ở tận Đan Mạch đã mày mò trong xưởng mộc nhỏ của mình, tạo ra những món đồ chơi xinh xắn.

Đến năm 1936, Ole quyết định đặt tên cho công ty của mình là LEGO - có nghĩa là " chơi thì phải vui" trong tiếng Đan Mạch. Nghe cái tên thôi cũng đủ biết chú Ole tâm huyết với việc mang đến niềm vui cho trẻ em qua những món đồ chơi của mình như thế nào rồi, phải không nào?

1946-1949: Ra đời những viên gạch LEGO đầu tiên!

Logo thứ 3 của LEGO
Logo thứ 3 của LEGO

Sau khi "tậu" được một cái máy ép nhựa xịn sò, Ole bắt đầu thử nghiệm tạo ra các hình thù ngộ nghĩnh từ nhựa. Vào năm 1949, những viên gạch LEGO đầu tiên - "tiền thân" của những viên gạch huyền thoại ngày nay - chính thức ra đời.

Mặc dù LEGO bây giờ nổi tiếng "khét tiếng", nhưng ngày xưa thì khác. Lúc bấy giờ, các bạn nhỏ còn mải mê với những món đồ chơi khác, chưa "mê mẩn" những viên gạch LEGO lắm. Nhưng khó khăn không cản được chí, Ole vẫn kiên trì sáng tạo và cho ra đời những sản phẩm mới, mở đường cho "đế chế" đồ chơi LEGO hùng mạnh về sau.

1955-1958: Bố thì kiên trì, con nối chí cho ra đời những khối gạch LEGO

Biểu tượng của LEGO 1955-1958
Biểu tượng của LEGO 1955-1958

Ole Kirk Kristiansen có một "giấc mơ LEGO" cháy bỏng và người nối tiếp giấc mơ ấy không ai khác chính là con trai tài ba - Godtfred. Nhận thấy tiềm năng của những viên gạch LEGO, Godtfred quyết tâm biến chúng thành đồ chơi thực thụ, thay vì chỉ là một món đồ mới lạ nhất thời.

Godtfred chính là cha đẻ của hệ thống LEGO “Liên Kết Tạo Mô Hình” (System in Play) huyền thoại.

Hệ thống System in Play tập trung vào việc kết hợp các viên gạch LEGO để xây dựng nên nhiều thứ hơn, kích thích khả năng sáng tạo của trẻ em.

Với phương châm "Càng nhiều gạch, càng xây được nhiều thứ", LEGO đã nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho thiết kế độc đáo của mình, chính thức mở ra cánh cửa cho những công trình LEGO kỳ vĩ sau này.

1962-1978: LEGO bành trướng vũ trụ đồ chơi!

Biểu tượng thứ 9 của LEGO
Biểu tượng thứ 9 của LEGO

Sau khi giành được bằng sáng chế, LEGO bắt đầu phát triển với hàng loạt sản phẩm mới. Từ mô hình xe, mô hình dành cho trẻ nhỏ cho đến những chú Minifigures(mô hình nhân vật) - mỗi sản phẩm đều hướng đến một nhóm khách hàng tiềm năng, giúp thương hiệu LEGO phủ sóng rộng rãi hơn.

Cũng trong khoảng thời gian này, công viên LEGOLAND đầu tiên được xây dựng tại Đan Mạch, thu hút du khách từ khắp nơi trên thế giới.

1978: LEGO "bùng nổ" thế giới thu nhỏ!

Logo của LEGO từ 1972-1998
Logo của LEGO từ 1972-1998

Hơn 30 năm sau khi ra đời, LEGO đã trở thành thương hiệu toàn cầu với vô số sản phẩm đình đám. Tuy nhiên, các nhà thiết kế của LEGO vẫn không ngừng sáng tạo. Vào năm 1978, họ bắt đầu ấp ủ ý tưởng xây dựng cả một thế giới thu nhỏ bằng những viên gạch LEGO.

Thế là, LEGO cho ra đời các bộ sản phẩm theo chủ đề: lâu đài, vũ trụ, thị trấn,... cho phép các bạn nhỏ thỏa sức xây dựng nên những cộng trình hoành tráng. Từ lâu đài nguy nga tráng lệ đến tên lửa chinh phục vũ trụ, thị trấn sầm uất - tất cả đều có thể tạo thành từ những viên gạch LEGO thần kỳ.

1995: LEGO lấn sân sang trò chơi điện tử

Trước năm 1995, LEGO chủ yếu tập trung vào các sản phẩm truyền thống. Nhưng đến năm 1995, đánh dấu bước ngoặt lớn khi LEGO chính thức bắt tay với các ông lớn trong thế giới giải trí đa phương tiện. Trò chơi điện tử đầu tiên của LEGO mang tên "LEGO Fun to Build" đã chào sân tại Nhật Bản. Đây là bước khởi đầu cho hành trình bành trướng của LEGO sang lĩnh vực game, hứa hẹn nhiều điều thú vị cho người chơi ở mọi lứa tuổi.

1998-2008: Chơi và đóng góp cho xã hội

Logo biểu tượng của LEGO hiện tại
Logo biểu tượng của LEGO hiện tại

Càng lớn mạnh, LEGO càng chú trọng đến những hoạt động ý nghĩa. Năm 1998, LEGO ra mắt bộ sản phẩm MINDSTORMS siêu xịn sò giúp trẻ em tiếp cận với lĩnh vực robot ngay từ khi còn nhỏ.

Một năm sau đó , Quỹ LEGO được thành lập bởi gia đình của người thợ mộc Ole. Mục tiêu của quỹ là mang đến cho trẻ em trên toàn thế giới cơ hội học hỏi và vui chơi thông qua những viên gạch LEGO.

Đến năm 2008, để tri ân những người hâm mộ cuồng nhiệt, LEGO đã biến những ý tưởng sáng tạo của các fan thành những bộ LEGO có một không hai.

2014: LEGO cập bến nghệ thuật thứ 7

Năm 2014, LEGO chính thức chạm ngõ điện ảnh với siêu phẩm hoạt hình "The LEGO Movie". Bộ phim gây bão phòng vé toàn cầu và nhận được vô số lời khen từ giới chuyên môn. Đây là cột mốc đánh dấu sự bùng nổ của LEGO trên mọi lĩnh vực, từ đồ chơi đến giải trí!

2017 - Đến nay: Cỗ máy sáng tạo LEGO không bao giờ ngừng nghỉ

Từ năm 2017 đến nay, LEGO vẫn miệt mài chạy đua với trí tưởng tượng không giới hạn. Ông vua đồ chơi này đã chế tạo ra một cộng đồng an toàn dành cho trẻ em dưới 13 tuổi, tổ chức cuộc thi Master Builders siêu hấp dẫn, xây dựng cả một ngôi nhà LEGO khủng tại Đan Mạch, và tiếp tục phát triển Quỹ LEGO.

Sau 90 năm thành lập, LEGO vẫn kiên định với sứ mệnh:

Mang đến những món đồ chơi chất lượng, kích thích trí tưởng tượng và nuôi dưỡng niềm vui chơi cho trẻ em trên toàn thế giới.

Có thể khẳng định, LEGO không chỉ là những viên gạch mà còn là cả một thế giới sáng tạo, đồng hành cùng tuổi thơ của hàng triệu người. Chắc chắn trong tương lai, LEGO sẽ còn mang đến nhiều bất ngờ và thú vị hơn nữa!

Câu chuyện từ "suýt phá sản" thành "đế chế đồ chơi"

LEGO cũng có giai đoạn thăng trầm mà không nhiều người biết đến! Ít ai biết rằng, LEGO từng chạm đáy nguy cơ phá sản.

Nguyên nhân chính là sự cạnh tranh khốc liệt trong ngành đồ chơi. Hàng loạt thương hiệu mới ra đời với vô vàn sản phẩm "hot " khiến cho vị thế ông vua đồ chơi của LEGO lung lay.

Sáng tạo không ngừng, Giảm bớt sản phẩm, Hợp tác với các nhà bán lẻ lớn chính là những chiến lược này đã cứu cánh cho LEGO và giúp thương hiệu hồi sinh ngoạn mục.

LEGO ngày nay: "Đế chế" đồ chơi hùng mạnh và đa dạng

So với "ngày xưa ơi là xưa", nhìn LEGO bây giờ thì... không khác biệt lắm! Điểm khác biệt lớn nhất có lẽ là doanh thu "khủng" của thương hiệu này. Năm 2016, LEGO đạt mức doanh thu cao nhất từ trước đến nay - hơn 5 tỷ đô la Mỹ!

Bí quyết thành công của LEGO chính là sự đa dạng hóa. Không chỉ bó hẹp trong những viên gạch nhỏ bé, LEGO còn lấn sân sang nhiều linh vực, từ sản xuất phim hoạt hình, trò chơi điện tử cho đến xây dựng cả công viên giải trí LEGO hoành tráng.

Hiện nay, LEGO vẫn được điều hành bởi hậu duệ đời thứ tư của Ole Kirk Kristiansen - Thomas Kirk Kristiansen. Trụ sở chính của LEGO vẫn đặt tại Billund, Đan Mạch. Tuy nhiên, LEGO đã mở rộng hoạt động ra nước ngoài với 5 văn phòng công ty, gần 40 văn phòng bán hàng, 5 nhà máy sản xuất và hơn 500 cửa hàng trên toàn thế giới.

Từ vấp ngã đến bùng nổ, hành trình của LEGO là minh chứng cho sự sáng tạo, đổi mới và khả năng thích nghi với thị trường. Chắc chắn trong tương lai, LEGO sẽ còn mang đến nhiều điều bất ngờ và thú vị cho các bạn nhỏ trên toàn thế giới!

Trong thế giới game đầy màu sắc, nơi những kẻ tiên phong biến từng pixel thành sự sống động, thì những thay đổi sáng tạo chính là kim chỉ nam. Và trong thế giới đó, có một biểu tượng như ngọn hải đăng, soi đường cho các game thủ trên toàn cầu – PlayStation.

PlayStation không chỉ là một thương hiệu, mà còn là một hiện tượng văn hóa đang không ngừng phát triển, định hình lại thế giới game. Sony Interactive Entertainment, một nhánh của Tập đoàn Sony đầy quyền lực, chính là nơi nuôi dưỡng và phát triển PlayStation. Nơi đây hội tụ những bộ óc sáng tạo bậc nhất cùng công nghệ tiên tiến, hứa hẹn mang đến cho game thủ những trải nghiệm giải trí đỉnh cao.

PlayStation đã trở thành biểu tượng bất diệt, kết nối những người chơi ở mọi nơi, mọi hoàn cảnh.

Vượt xa khỏi định nghĩa đơn thuần là một chiếc máy chơi game, PlayStation đã khẳng định vị thế là biểu tượng cho sự sáng tạo, không ngừng tiến hóa và tạo nên những ảnh hưởng to lớn trong ngành công nghiệp game.

Bây giờ, hãy cùng du hành ngược thời gian, khám phá lịch sử của PlayStation. Trên đường đi, chúng ta sẽ gặp gỡ những bộ óc vĩ đại, những người đã thổi hồn vào cả chiếc máy chơi game huyền thoại này. Cuối cùng, chính tầm nhìn và quá trình sáng tạo ra những chiếc máy chơi game đã định hình cho thương hiệu.

PlayStation Ra Đời

Mọi chuyện bắt đầu vào đầu những năm 1990, khi ông trùm ngành điện tử Sony quyết định nhảy vào ngành công nghiệp game.

Vào năm 1993, Sony Computer Entertainment ra đời dưới sự dẫn dắt của Ken Kutaragi.

Ken Kutaragi, người được mệnh danh là "Cha đẻ của PlayStation" vốn là một kỹ sư tài năng tại Sony, say mê những công nghệ đột phá và có khả năng biến đổi thế giới. Ông tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh và tiềm năng của máy chơi game, rằng chúng sẽ làm cách mạng hóa cả ngành công nghiệp giải trí.

Tuy nhiên, con đường của Kutaragi không hề dễ dàng. Ông phải đối mặt với sự nghi ngờ và phản đối từ cấp trên của Sony. Nhưng khao khát cháy bỏng về một nền tảng chơi game với công nghệ đỉnh cao, mang đến trải nghiệm giải trí và khám phá tuyệt vời cho người chơi toàn cầu, đã thôi thúc ông không ngừng nỗ lực. Đây chính là dấu mốc ra đời của một nhánh chuyên biệt trong Sony, chỉ tập trung vào việc sáng tạo máy chơi game và phần mềm.

Kutaragi là một nhà tiên phong trong lĩnh vực máy tính và giải trí. Tầm nhìn của ông cùng khả năng thấu hiểu cả công nghệ lẫn cộng đồng game thủ chính là động lực thúc đẩy Sony Computer Entertainment.

Dưới sự lãnh đạo của Kutaragi, chiếc máy chơi game PlayStation đầu tiên ra mắt tại Nhật Bản vào ngày 3 tháng 12 năm 1994.

Với phiên bản đầu tiên này, Kutaragi đã mở ra một cuộc cách mạng game, định hình lại cả ngành công nghiệp. Những ảnh hưởng của PlayStation đầu tiên vẫn còn vang vọng cho đến ngày nay.

Thế Giới Game PlayStation

PlayStation đời đầu là thành quả của nhiều năm nghiên cứu, phát triển và đổi mới. Nó cũng là một bước nhảy vọt táo bạo. Dưới sự giám sát chặt chẽ của Kutaragi, chiếc máy PlayStation đầu tiên được chế tạo tỉ mỉ. Việc tung ra sản phẩm đòi hỏi không chỉ kiến thức kỹ thuật chuyên sâu mà còn cần hiểu biết sâu sắc về thị trường, mong muốn của cộng đồng game thủ và chiến lược quản bá hiệu quả.

Kutaragi nhận thức rõ tầm quan trọng của mối quan hệ với các nhà phát triển game.

Chính những mối quan hệ này sẽ hỗ trợ việc tạo ra vô vàn trò chơi hấp dẫn, góp phần định hình trải nghiệm PlayStation đặc trưng. Việc xây dựng một nền tảng cho phép các nhà phát triển thỏa sức sáng tạo đã đẩy mạnh sự phát triển của thương hiệu và dẫn đến thành công lâu dài.

Chuyên môn về kỹ thuật và đam mê cải tiến phần cứng của Kutaragi đã thổi hồn vào máy PlayStation. Đồng thời, tầm nhìn của ông cũng truyền cảm hứng cho các đội thiết kế và chiến lược marketing của Sony, dẫn đến sự hình thành và phát triển của thương hiệu PlayStation.

Kutaragi luôn hướng đến những chiếc máy chơi game mạnh mẽ nhất trên thị trường.

Ông cũng khuyến khích sự sáng tạo của các nhà phát triển game, mang đến những trải nghiệm tuyệt vời cho người chơi. Những khía cạnh lãnh đạo này của ông tại Sony Computer Entertainment đóng vai trò then chốt trong việc định hướng phát triển thương hiệu PlayStation.

PlayStation - Giữ Vững Tầm Nhìn và Liên Tục Cải Tiến

Để phù hợp với sự phát triển của thương hiệu và các thế hệ máy chơi game mới, PlayStation cũng không ngừng cải tiến và đổi mới hình ảnh và luôn nỗ lực mang đến cho người chơi những sản phẩm tiên tiến nhất, đáp ứng mọi nhu cầu và mong muốn của họ.

Ken Kutaragi, "Cha đẻ của PlayStation", đã có những đóng góp to lớn cho sự thành công của thương hiệu này. Ông luôn cống hiến hết mình cho đổi mới và tạo ra những trải nghiệm chơi game đầy màu sắc và khám phá, khơi gợi niềm đam mê cho hàng triệu người chơi trên toàn thế giới.

PlayStation luôn giữ vững tầm nhìn ban đầu, đó là mang đến cho game thủ những trải nghiệm chơi game tuyệt vời nhất.

Cam kết vượt qua giới hạn công nghệ và luôn lắng nghe mong muốn của game thủ chính là những yếu tố then chốt định hình hình ảnh thương hiệu PlayStation.

PlayStation - Hành Trình 28 Năm Chinh Phục Thế Giới Game

Playstation 1
Playstation 1

Hành trình bắt đầu từ năm 1994 với máy chơi game đầu tiên, PlayStation 1, đánh dấu một bước ngoặt mới trong ngành công nghiệp game với đồ họa 3D ấn tượng, kho game phong phú và khả năng kết nối mạng. PlayStation 1 đã trở thành biểu tượng cho thế hệ game thủ đầu tiên, đưa PlayStation lên vị trí dẫn đầu thị trường.

Playstation 2
Playstation 2

Tiếp nối thành công, PlayStation 2 ra mắt vào năm 2000, mang đến một cuộc cách mạng với sức mạnh xử lý vượt trội, khả năng đọc đĩa Blu-ray và kho game đồ sộ. PlayStation 2 trở thành máy chơi game bán chạy nhất mọi thời đại, khẳng định vị thế thống trị của PlayStation.

Playstation 3
Playstation 3

Năm 2006, PlayStation 3 xuất hiện, mở ra kỷ nguyên đồ họa cao cấp với công nghệ Cell độc đáo, kết nối mạng PlayStation Network và kho game đa dạng. PlayStation 3 đã tiên phong trong việc đưa game thủ đến với thế giới giải trí đa phương tiện, khẳng định vị thế dẫn đầu của PlayStation trong kỷ nguyên số.

Playstation 4
Playstation 4

PlayStation 4 ra mắt vào năm 2013, ghi dấu ấn với thiết kế hiện đại, hiệu năng mạnh mẽ, kho game độc quyền ấn tượng và trải nghiệm chơi game trực tuyến mượt mà. PlayStation 4 đã trở thành máy chơi game bán chạy nhất của thế hệ thứ 8, tiếp tục củng cố vị trí dẫn đầu của PlayStation.

Playstation 5
Playstation 5

Năm 2020, PlayStation 5 chính thức trình làng, mở ra kỷ nguyên chơi game mới với ổ SSD siêu tốc, đồ họa 4K/8K sống động, khả năng truy cập tức thì và trải nghiệm chơi game VR đỉnh cao. PlayStation 5 hứa hẹn sẽ mang đến những trải nghiệm chơi game chưa từng có, đưa PlayStation tiến xa hơn nữa trong tương lai.

Hành trình 28 năm của PlayStation là minh chứng cho sự sáng tạo, đổi mới và đam mê không ngừng nghỉ.

PlayStation đã và đang tiếp tục mang đến cho game thủ những trải nghiệm chơi game tuyệt vời nhất, khẳng định vị thế dẫn đầu trong ngành công nghiệp game và hứa hẹn sẽ tiếp tục chinh phục trái tim của hàng triệu người chơi trên toàn cầu trong những năm tới.

PlayStation – Biểu Tượng Của Ngành Công Nghiệp Game

Câu chuyện của PlayStation qua năm tháng không chỉ là sự phát triển của một thương hiệu, mà còn là câu chuyện về sự phát triển của cả ngành công nghiệp game.

Mỗi thế hệ máy chơi game đều là một bước tiến mới mẻ, mang đến cho game thủ những trải nghiệm chơi game đỉnh cao và sống động hơn bao giờ hết.

PlayStation đã trở thành biểu tượng của niềm đam mê, sự đổi mới và tinh thần đồng đội của cộng đồng game thủ trên toàn cầu.

Hành trình của PlayStation là hành trình của sự tri ân và vinh danh. Đó là lời tri ân dành cho những con người đã góp phần kiến tạo nên một thế giới game đầy màu sắc và những trải nghiệm chơi game tuyệt vời. Từ những nhà sáng tạo tiên phong, những kỹ sư phát triển game cho đến các game thủ, họ là những người đã dành trọn niềm đam mê và nhiệt huyết để khám phá những thế giới mới, những câu chuyện mới dưới biểu tượng lừng lẫy của ngành công nghiệp game.

PlayStation là biểu tượng của cả quá khứ và tương lai, là minh chứng cho sự phát triển không ngừng của ngành công nghiệp game. Đây sẽ tiếp tục là ngọn hải đăng soi sáng con đường tiến bước, dẫn dắt game thủ đến với những trải nghiệm chơi game đỉnh cao hơn nữa trong tương lai.

Pixar - cái tên gắn liền với tuổi thơ của biết bao thế hệ, từ "Toy Story" (Câu chuyện đồ chơi) đến "Finding Nemo" (Đi tìm Nemo) hay "The Incredibles" (Gia đình siêu nhân) và cả "Coco" (Lễ hội của người chết) gần đây.

Pixar chinh phục chúng ta bằng những thước phim hoạt hình kỳ diệu, đánh thức trí tưởng tượng từ thời thơ ấu. Giờ đây, khi đã trưởng thành, những ký ức về những bộ phim ấy vẫn còn nguyên vẹn như ngày nào. Chúng ta trở thành cầu nối, dẫn dắt những đứa con của mình bước vào thế giới kỳ diệu ấy, để chúng được trải nghiệm niềm vui và sự diệu kỳ mà ngày bé chúng ta từng có.

Không ít thương hiệu luôn tìm cách đổi mới để truyền tải giá trị và cảm xúc vào, nhưng Pixar thì không! Tinh hoa của Pixar nằm ở sự đơn giản và ngọn lửa sáng sự tạo nghệ thuật không ngừng cháy bỏng theo năm tháng, và khán giả lại càng  càng yêu thích biểu tượng mộc mạc đó.

Khác với sức sáng tạo không ngừng nghỉ, logo thương hiệu của Pixar được ra mắt vào năm 1994 và cho đến tận bây giờ, nó vẫn giữ nguyên như cũ. Giữ được sự đơn giản cũng chính là đỉnh cao của sáng tạo nghệ thuật. Trong phần còn lại của bài viết, chúng ta sẽ cùng khám phá những bài học thú vị về câu chuyện thương hiệu của Pixar.

Pixar: từ dự án thử nghiệm của ông trùm Star Wars đến đế chế phim hoạt hình

Pixar chính sản phẩm của George Lucas - cha đẻ của những siêu phẩm điện ảnh như Star Wars và Indiana Jones. Ít ai biết rằng, vào năm 1979, Lucas đã thành lập một dự án thí nghiệm nhỏ trực thuộc Lucasfilm, có tên là Graphics Group.

Mục tiêu của Graphics Group là khám phá tiềm năng của công nghệ kỹ xảo (computer animation) trong lĩnh vực điện ảnh. Chỉ sau 7 năm, Steve Jobs – ông chủ của Apple - đã mua lại phần lớn cổ phần của Graphics Group và chính thức trở thành thuyền trưởng mới.

Kế thừa di sản của Lucas, Steve Jobs đã thực hiện một bước ngoặc lịch sử: đổi tên Graphics Group thành Pixar.

Kể từ đó, hành trình thương hiệu phim hoạt hình Pixar bắt đầu được viết!

Dưới sự dẫn dắt tài ba của Steve Jobs, Pixar liên tục cho ra đời những siêu phẩm. Bộ phim hoạt hình nào của hãng cũng gặt hái giải thưởng. Nhưng Pixar không chỉ dừng lại ở đó!

Một bước ngoặt quan trọng khác là sự hợp tác giữa Pixar và ông lớn Walt Disney. Bắt tay với Disney giúp Pixar lấn sân sang nhiều lĩnh vực mới như sản xuất phim điện ảnh, xây dựng khu vui chơi giải trí, và cập bến thế giới số với ứng dụng Disney+.

Nhờ sự hợp tác này, đế chế Disney và Pixar đã thống linh vũ trụ giải trí, đưa những bộ phim hoạt hình huyền thoại đến với khán giả trên toàn thế giới.

1979 - 1986: Ước mơ của George Lucas và những pixel đầu tiên

Dự án thử nghiệm Graphics của George Lucas
Dự án thử nghiệm Graphics của George Lucas

Ý tưởng thì nhiều, nhưng biến ý tưởng thành công ty tỷ đô thì không phải chuyện dễ dàng. Thế nhưng, George Lucas - cha đẻ của Star Wars đã làm được điều đó với dự án thử nghiệm của mình, mang tên Graphics Group đấy!

Ông Lucas muốn xây dựng một đế chế phim hoạt hình sử dụng công nghệ máy tính đỉnh cao. Thành tựu đáng chú ý đầu tiên của ông chính là hiệu ứng hành tinh chết hồi sinh trong Star Trek II: The Wrath of Khan - tất cả đều nhờ vào sức mạnh của công nghệ máy tính bấy giờ.

Không dừng lại ở đó, Lucas tiếp tục khai thác công nghệ này, tạo ra hình ảnh, phim ngắn và thậm chí cả một phân cảnh trong phim Young Sherlock Holmes.

1986 - 1990: Steve Jobs trở thành thuyền trưởng mới và biểu tượng Luxo Jr ra đời

Steve Jobs trở thành thuyền trưởng mới , đổi tên thành Pixar
Steve Jobs trở thành thuyền trưởng mới , đổi tên thành Pixar

Năm 1986 đánh dấu bước ngoặt lịch sử, Steve Jobs, ông vua công nghệ tài ba lúc đó, đã ra giá 5 triệu đô la cho dự án Graphics Group. Và cái tên Pixar chính thức ra đời!

Để khai màn cho kỷ nguyên mới, Pixar giới thiệu Luxo Jr. - phim ngắn về một chiếc đèn bàn hoạt hình máy tính, sau này trở thành biểu tượng của hãng.

Bộ phim này gây bão giới phê bình và được đề cử giải Oscar danh giá. Từ đó, Pixar miệt mài sản xuất phim ngắn, quảng cáo và các dự án phim hoạt hình khác.

1991 - 2008: Bắt tay đối thủ thành lập đế chế phim họat hình

Bắt tay đối thủ thành lập đế chế phim họat hình
Bắt tay đối thủ thành lập đế chế phim họat hình

Pixar và Disney, thay vì trở 2 đối thủ truyền kiếp, họ đã quyết định bắt tay nhau tạo thành  đế chế phim hoạt hình vào năm 1991. Cặp bài trùng đã ấp ủ nhiều ý tưởng táo bạ và tạo ra đứa con đầu tiên của mình, chính là “Câu chuyện đồ chơi – Toy Story" .

"Câu chuyện đồ chơi" ra mắt năm 1995 và chiếm ngôi bộ phim ăn khách nhất. Không những thế, đây còn là phim có doanh thu cao nhất năm đó và nhận được đề cử Oscar - bộ phim sản xuất hoàn toàn bằng công nghệ máy tính - một lần nữa khẳng định vị thế tiên phong của Pixar.

Thay vì kết thúc đường ai nấy đi sau, Pixar và Disney đã ký thêm thỏa thuận hợp tác 10 năm vào năm 1997. Nhờ đó, hàng loạt siêu phẩm hoạt hình lần lượt ra đời: "A Bug's Life", "Toy Story 2" (Câu Chuyện Đồ Chơi 2), "Monsters, Inc." (Công Ty Quái Vật), "Finding Nemo" (Đi Tìm Nemo), "The Incredibles" (Gia Đình Siêu Nhân), "Cars", "Ratatouille" (Chú Chuột Đầu Bếp) và nhiều sản phẩm khác. Mỗi bộ phim đều bội thu lời khen từ giới truyền thông.!

Dù đã có thỏa thuận 10 năm, nhưng cả hai bên đều mong muốn song hành lâu dài.

Điều này đã dẫn đến việc Pixar và Disney chính thức chung tay dưới một mái nhà vào năm 2006. Disney mua lại Pixar và kể từ đó, mọi bộ phim đều được ghi nhận bởi cả Pixar và Disney.

2009 - Đến nay: Hành trình sáng tạo không ngừng nghỉ

Năm 2009, Pixar ra mắt "Up" (Vút Bay) - bộ phim hoạt hình đầu tiên được công chiếu tại Liên hoan phim Cannes. Hai năm sau đó, để đáp ứng tốc độ phát triển của mình, Pixar xây dựng thêm tòa nhà thứ hai tại trụ sở chính ở Emeryville.

Pixar không chỉ nổi tiếng với những bộ phim hoạt hình chất lượng cao, bỏ túi hàng loạt giải thưởng danh giá như Oscar, mà còn thực hiện vô số sản phẩm sáng tạo khác như phim tài liệu, triển lãm góp phần lan tỏa sức tưởng tượng vô bờ bến của đội ngũ nghệ sĩ tài ba đến với khán giả trên toàn thế giới.

Pixar: Bắt tay địch mà hóa tri kỷ

 Luxo Jr. chiếc đèn bàn biểu tượng của Pixar
Luxo Jr. chiếc đèn bàn biểu tượng của Pixar

Những điều tưởng như đang cản đường phát triển của Pixar lại trở thành nước cờ chiến lược thông minh. Thông thường, các công ty sẽ cạnh tranh ác liệt để giành giật thị trường nhưng Pixar lại đi ngược dòng với chiến lược "bắt tay địch mà hóa tri kỷ". Bởi vì, thay vì đối đầu với nhau trên thị trường, hai bên đã chọn cách bắt tay nhau đi đến thành công.

Pixar và Disney đã gắn bó hơn qua nhiều thỏa thuận hợp tác, cho đến khi Walt Disney Studios chính thức mua lại Pixar vào năm 2006.

Pixar: Bài học thương hiệu không ngừng bứt phá

Pixar - đế chế hoạt hình khiến cả thế giới mê mệt
Pixar - đế chế hoạt hình khiến cả thế giới mê mệt

Pixar - đế chế hoạt hình khiến cả thế giới mê mệt, hóa ra lại bắt đầu từ một ý tưởng thử nghiệm của George Lucas, được Steve Jobs tiếp lửa và giờ đây là gà đẻ trứng vàng của The Walt Disney Company.

Xuất phát điểm của Pixar chỉ là 40 nhân viên, nhưng giờ đây con số ấy đã lên hơn 1200 người! Năm 2000, Pixar chính thức dời đô từ Richmond, California đến Emeryville - nơi đặt trụ sở cho đến ngày nay.

Nhắc đến thế giới phim hoạt hình, thì chắc chắn phải nhắc đến Pixar - đơn giản vì họ là ông vua của làng hoạt hình. Những siêu phẩm gần đây của Pixar như "Câu chuyện đồ chơi", "Gia đình siêu nhân" phần tiếp theo hay "Đi tìm Dory" đều bội thu hơn 1 tỷ đô doanh thu.

Thành công của họ không chỉ tính bằng tiền. Pixar còn sở hữu hàng loạt giải thưởng danh giá: Oscar, Quả cầu vàng, Grammy... - minh chứng cho chất lượng đỉnh của chóp của các bộ phim. Pixar không ngừng đổi mới để bứt phá trong ngành hoạt hình. Những năm gần đây, họ còn bước chân vào cả lĩnh vực phim hoạt hình 2D và live-action. Rõ ràng, chuyến hành trình của Pixar sẽ còn dài lâu và không ngừng tạo ra những bất ngờ thú vị.

Câu chuyện của Yahoo là một minh chứng rõ nét về những thách thức trong thâu tóm, sáp nhập (M&A) và quản trị. Bài học rút ra cho các doanh nghiệp là phải biết linh hoạt trong chiến lược: tự phát triển, mua lại, hay hợp tác. Yahoo đã liên tục đưa ra những quyết định sai lầm trong lĩnh vực này, cố gắng tự thân vận động mặc dù rõ ràng không đủ khả năng.

Trong 20 năm, vị trí CEO của Yahoo đã thay đổi tới 6 lần. Các thương vụ mua lại của Yahoo thường là những quyết định chóng vánh nhằm tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn của các CEO. Điều này dẫn đến việc họ dễ dàng phản ứng thái quá và thiếu logic khi đối mặt với các khủng hoảng bên ngoài, chẳng hạn như bong bóng dot-com hay cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Hậu quả là Yahoo lúng túng trong việc xác định mình là công ty truyền thông hay công nghệ, đồng thời mất đi cả nhân tài lẫn doanh thu quảng cáo vào tay Facebook và Google.

Hãy cùng khám phá hành trình đầy thú vị của "ông trùm tìm kiếm" một thời và thương hiệu Yahoo qua bài viết này. Biết đâu bạn sẽ tìm thấy những điều bất ngờ và thú vị!

Lưu ý rằng đây chỉ là tóm lược về lịch sử thương hiệu của Yahoo, còn rất nhiều điều khác đã xảy ra ngoài những gì được nêu bật trong bài viết này.

Gặp gỡ ông trùm Internet Yahoo

Bài học từ Yahoo: Không bao giờ ngừng vươn lên!
Bài học từ Yahoo: Không bao giờ ngừng vươn lên!

Nhắc đến Yahoo, ai cũng nhớ đến "anh cả" của làng tìm kiếm một thời. Ra đời từ năm 1994 bởi hai nhà sáng lập Jerry Yang và David Filo, Yahoo ban đầu chỉ đơn giản là công cụ giúp người dùng tìm kiếm thông tin trên các trang web khác nhau tại một nơi.

Bắt đầu hành trình từ Đại học Stanford, Yahoo nhanh chóng thành lập trụ sở chính tại Sunnyvale, California, ngay trung tâm Thung lũng Silicon sôi động. Thậm chí, có thể nói rằng Yahoo chính là một trong những mảnh ghép quan trọng biến Thung lũng Silicon thành "thủ phủ" công nghệ và khởi nghiệp của Hoa Kỳ.

Ngày nay, Yahoo đã "lột xác" thành tập đoàn dịch vụ internet khổng lồ, cung cấp vô số dịch vụ từ email, công cụ tìm kiếm, tin tức đến hàng tá thứ "hay ho" khác.

Đỉnh cao của Yahoo là vào năm 2007 khi ghi nhận 3,4 tỷ lượt truy cập vào trang web.

Kể từ đó, Yahoo vẫn kiên trì nỗ lực để giữ vững vị thế "ông lớn" uy tín và đáng tin cậy trong thế giới internet đầy biến động.

1994-1997: Yahoo Ra Đời

Trước khi Google bứt phá và thống trị thế giới Internet, Yahoo là người tiên phong và "ông hoàng" được mọi người tin dùng. Ra đời từ một phòng ký túc xá bình thường tại Đại học Stanford, "đứa con tinh thần" của Jerry Yang và David Filo ban đầu chỉ là một thư mục web (web directory) nho nhỏ. Ai mà ngờ được, chỉ sau một năm, cậu bé Yahoo đã bứt phá ngoạn mục với một triệu lượt truy cập - một con số không tưởng vào thời điểm đó!

Thành công vang dội mở ra cánh cửa cho Yahoo tiến lên một tầm cao mới. Hai vòng gọi vốn thành công giúp Yahoo lột xác thành công ty đại chúng trên sàn chứng khoán vào năm 1996. Từ đây, Yahoo bắt đầu thỏa sức tung hoành trên internet, cung cấp vô số dịch vụ hữu ích như tin tức, thể thao, tài chính, giải trí… cho người dùng, biến việc truy cập internet trở nên thú vị và phong phú hơn bao giờ hết.

1997-1999: Yahoo Mở Rộng Vươn Mình

Sau khi làm mưa làm gió với thư mục web, Yahoo không ngủ quên trên chiến thắng mà nhanh chóng nâng cấp thành "đế chế dịch vụ" đa sắc màu để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dùng.

Năm 1997, Yahoo bắt tay với Four11, chủ nhân của Rocketmail - dịch vụ email "hót hòn họt" thời bấy giờ - đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hành trình phát triển của mình.

Chưa dừng lại ở đó, năm 1998, chứng kiến sự bùng nổ của Yahoo khi bành trướng sang vô số lĩnh vực: email (tiền thân là Rocketmail), mua sắm, trò chơi online, du lịch, thời tiết, bản đồ, và còn nhiều thứ khác nữa.

Những sản phẩm này ra đời sau những thương vụ mua lại đình đám từ ClassGames.com, GeoCities, eGroups và nhiều ông lớn công nghệ khác.

Yahoo thực sự là người đi đầu trong thời kỳ sơ khai của Internet, mở đường cho sự phát triển của vô số công ty cạnh tranh sau này.

2000-2005: Yahoo Trải Qua Bùng Nổ Dot-Com và Những Thách Thức

Sau cơn sốt Y2K, Internet bùng nổ như một quả bom nổ chậm, và Yahoo là một trong những kẻ hốt bạc trong giai đoạn này. Giá cổ phiếu của Yahoo vút lên đỉnh cao vào năm 2000, đạt mức 118,75 USD - một con số khiến bao người ghen tị.

Giá cổ phiếu của họ tụt dốc không phanh và chạm đáy vào năm 2001, đánh dấu sự sụp đổ của đế chế Yahoo một thời.

Để cứu vãn tình thế, Yahoo quay cuồng săn tìm và mua lại các công ty khác, chủ yếu là các công cụ tìm kiếm, nhà cung cấp email và dịch vụ Web 2.0 nhằm chiến đấu với đối thủ. Tuy nhiên, nỗ lực của Yahoo dường như vô ích. Họ vật lộn để gượng dậy và không bao giờ tìm lại ánh hào quang như xưa.

"Lên voi xuống chó", câu chuyện cổ tích về Yahoo nhanh chóng kết thúc.

2006-2017: Máy trảm CEO của Yahoo

Sau cú ngã đau điếng, Yahoo loay hoay tìm cách quay trở lại thời đỉnh cao và liên tục bổ nhiệm các CEO vào “máy trảm” của mình. Mỗi vị CEO lại mang theo một giấc mơ riêng, nhưng tiếc thay, không ai có thể nối gót người tiền nhiệm để đưa Yahoo trở lại thời kỳ hoàng kim.

Nổi bật nhất là Marissa Mayer, nữ CEO lèo lái Yahoo từ năm 2012 đến 2017. Ước mơ cháy bỏng của bà là biến Yahoo thành ông trùm công nghệ di động. Tuy nhiên, tham vọng ấy rốt cuộc cũng tan biến như bong bóng xà phòng.

Yahoo: Từ đối thủ của Google đến "người đồng hành" với Bing!

Bài học thương hiệu từ Yahoo
Bài học thương hiệu từ Yahoo: "Lên voi xuống chó" trong nháy mắt

Trên chiến trường của những công cụ tìm kiếm, Yahoo và Google đã có một cuộc đọ sức ngoạn mục suốt nhiều năm để giành lấy vị trí ông hoàng. Yahoo tung ra những sản phẩm mà hẳn giới trẻ thời bấy giờ không ai mà không biết như Yahoo! Messenger, Flickr, và bắt tay với ông trùm thương mại điện tử Trung Quốc Alibaba. Tuy nhiên, những nỗ lực này dường như vẫn chưa đủ để Yahoo! lật đổ Google.

Năm 2008, Microsoft đưa ra con số 44,6 tỷ USD để "rước" Yahoo về nhà, nhưng cuộc thương lượng nhanh chóng vào ngõ cụt vì sự từ chối của Yahoo. Tuy nhiên, duyên nợ giữa hai ông lớn vẫn chưa kết thúc. Sau nhiều lần đàm phán, vào năm 2009, họ đi đến thỏa thuận: Yahoo sẽ sử dụng công cụ tìm kiếm Bing của Microsoft và "chăm sóc" những khách hàng cao cấp cho Microsoft trong 10 năm tiếp theo.

Câu chuyện của Yahoo và Google là minh chứng cho sự cạnh tranh khốc liệt trong thế giới công nghệ.

Dù không còn ngự trị trên ngai vàng tìm kiếm, Yahoo vẫn ghi dấu ấn trong lòng người dùng với những dịch vụ độc đáo và đóng góp to lớn cho sự phát triển của internet.

Yahoo: Ông trùm một thời, "hoài niệm" ngày nay!

Dạo quanh Internet hiện đại, bạn vẫn có thể bắt gặp Yahoo với đủ các dịch vụ quen thuộc như ngày nào. Tuy nhiên không còn như thời hoàng kim, Yahoo giờ đây chỉ còn là một cái tên "hoài niệm" gợi nhớ về thời kỳ Internet sơ khai. Dẫu vậy, vẫn có một số lượng người dùng trung thành thương nhớ Yahoo và vẫn sử dụng nó thường xuyên. Cùng với dấu ấn lịch sử đậm nét tại Thung lũng Silicon, Yahoo vẫn tìm được cách tồn tại song song với những gã khổng lồ như Google.

Năm 2016, mảng kinh doanh cốt lõi của Yahoo đã được Verizon mua lại. Những bộ phận còn lại sau đó "tan đàn xẻ lá". Vào năm 2021, Apollo Global Management tiếp tục thâu tóm 90% cổ phần của Yahoo, chỉ để lại 10% cho Verizon.

Trụ sở chính của Yahoo hiện vẫn "tọa lạc" tại Sunnyvale, California. Tính đến năm 2020, doanh thu của Yahoo tạm ổn ở mức 7,4 tỷ USD. Sau nhiều CEO vật lộn để tìm hướng đi chiến lược, Jim Lanzone hiện đang là người cầm trịch Yahoo.

Bài học rút ra: Giữ vững tinh thần giữa lúc khó khăn và biết khi nào cần dừng lại.

Điều thú vị là nhiều cựu nhân viên Yahoo đã tiếp tục gặt hái thành công, thành lập hoặc làm việc tại các công ty công nghệ khác ở Thung lũng Silicon, từ WhatsApp, NextDoor, Facebook cho đến cả Google - "kẻ thù truyền kiếp" của Yahoo ngày xưa.

Yahoo ngày nay: Không bao giờ ngừng vươn lên!

Câu chuyện của Yahoo không chỉ đơn thuần là sống sót sau những biến động, mà còn là hành trình hồi sinh từ tro tàn đầy ngoạn mục. Giữa muôn trùng thử thách, Yahoo đã chứng minh sức mạnh phi thường của thương hiệu và bản lĩnh không ngừng vươn lên.

Câu chuyện của Yahoo là một lời nhắc nhở rằng ngay cả những thương hiệu lớn nhất cũng có thể vấp ngã. Tuy nhiên, với tinh thần không ngừng vươn lên và bài học kinh nghiệm quý giá, Yahoo vẫn có cơ hội phục hồi và tái khẳng định vị thế của mình trong thị trường công nghệ đầy cạnh tranh.

IBM chính là người tiên phong đưa công nghệ máy tính đến với mọi nhà, mọi người. Họ đã chuẩn hóa công nghệ này, buộc các đối thủ phải "chạy theo" một nhu cầu mà chính họ đã đánh giá thấp.

Với bề dày kinh nghiệm, IBM được biết đến như nhà sản xuất những siêu máy tính, đồng thời là đối tác tin cậy, cung cấp các sản phẩm và giải pháp cho doanh nghiệp, chính phủ và cả quân đội. Ảnh hưởng của IBM đến sự phổ biến của PC còn lớn hơn cả Apple, Compaq, Dell hay thậm chí là Microsoft.

Thế nhưng, đế chế PC của IBM bắt đầu lung lay chỉ sau 5 năm thống trị từ 1981 đến 1986. Và đến năm 2005, gã khổng lồ công nghệ Trung Quốc - Lenovo Group - đã chính thức thâu tóm mảng PC của IBM.

Thị trường máy tính cá nhân từ miền đất hứa bỗng chốc trở thành chiến trường khốc liệt với vô số đối thủ cạnh tranh.

Vậy điều gì đã xảy ra trong suốt gần 25 năm sóng gió này? Hãy cùng khám phá hành trình đầy vinh quang và sóng gió của thương hiệu IBM.

1911-1924: Khởi đầu với tên gọi dài dòng

Vào năm 1911, Charles Ranlett Flint đã thành lập một công ty nhỏ tiền thân của IBM ngay tại ngôi làng Endicott, New York. Mặc dù đến năm 1924, IBM mới chính thức có cái tên như ngày nay, nhưng ngay từ những ngày đầu, Flint đã đặt nền móng vững chắc cho định hướng phát triển của công ty.

Khác với cái tên ngắn gọn, dễ nhớ như bây giờ, IBM thời kỳ đầu tiên lại sở hữu cái tên khá dài - Computing-Tabulating-Recording Company. Đây chính là kết quả sau cú bắt tay giữa 3 thương hiệu: Computing Scale (Máy tính Bàn tính), Tabulating Machine (Máy tính Bảng tính), và Time Recording (Máy Ghi giờ).

Sau khi Thomas Watson nắm quyền điều hành, Computing-Tabulating-Recording Company chính thức thay đổi với cái tên gọn gàng, dễ nhớ hơn - International Business Machines. Trong giai đoạn này, IBM tập trung dốc toàn lực vào chiến lược kinh doanh và phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu thiết thực của khách hàng.

1925-1960: IBM bành trướng vào các tập đoàn lớn

Năm 1928, IBM trình làng hệ thống loa phóng thanh, nhanh chóng được các trường học hợp tác đưa vào sử dụng. Từ đó, những buổi phát thanh buổi sáng đã trở thành truyền thống của nhiều trường học. Cũng trong năm này, IBM còn sáng chế ra máy tính bỏ túi đầu tiên sử dụng phép tính trừ.

Vài năm sau, vào năm 1935, máy đục lỗ của IBM chính thức góp mặt vào hoạt động của Cục An sinh Xã hội Mỹ. Nhiệm vụ của IBM lúc bấy giờ là hỗ trợ xây dựng một hệ thống số An sinh Xã hội hoàn toàn mới cho công dân Hoa Kỳ.

IBM chính thức bành trướng mảng công nghệ dành cho các tập đoàn lớn vào năm 1952 - những siêu máy tính mainframe.

Mainframe - những máy tính lớn dùng xử lý dữ liệu với tốc độ phi thường - chính là thế mạnh kinh doanh của IBM thời điểm đó và vẫn được duy trì cho đến tận bây giờ. Mainframe trở thành trung tâm vận hành các tập đoàn lớn trong nhiều lĩnh vực như ngân hàng, tài chính, viễn thông, bán lẻ… nhờ khả năng xử lý lượng dữ liệu khổng lồ một cách nhanh chóng, chính xác và an toàn.

Bên cạnh đó, IBM còn phát minh ra ổ cứng để lưu trữ dữ liệu, và FORTRAN - một ngôn ngữ lập trình đầu tiên trên thế giới.

1981: IBM mở ra kỷ nguyên máy tính cá nhân

Vào ngày 12 tháng 8 năm 1981, một sự kiện trọng đại đã diễn ra tại khách sạn Waldorf Astoria. Ông Estridge lúc bấy giờ đang chuẩn bị trình làng đứa con tinh thần của mình - IBM PC - chiếc máy tính cá nhân.

Đối với IBM thời đó, máy tính cá nhân là một sản phẩm “nhỏ bé” so với mảng kinh doanh quen thuộc – những siêu máy tính xử lý dữ liệu dành cho các tập đoàn lớn.

Mục tiêu chính của máy tính cá nhân là phục vụ khách hàng trong môi trường doanh nghiệp, và điều này đã châm ngòi cho một cuộc đua công nghệ khốc liệt. Các đối thủ khác trong lĩnh vực sản xuất máy tính cá nhân như Apple, Commodore International, Tandy… phải chào thua hoàn toàn trước sức hút của IBM và buộc phải thay đổi để bắt kịp xu hướng.

Những lô hàng máy tính cá nhân đầu tiên của IBM được xuất xưởng vào tháng 10 năm 1981. Chỉ trong năm đầu tiên, doanh thu từ IBM PC đã đạt đến con số 1 tỷ đô la Mỹ, vượt xa cả mong đợi của chính IBM. Dự kiến ban đầu, IBM chỉ đặt mục tiêu sản xuất 1 triệu máy trong 3 năm, với 200.000 máy trong năm đầu. Thế nhưng, con số thực tế lại lớn hơn dự tính rất nhiều – IBM bán được 200.000 máy mỗi tháng trong năm thứ hai sau khi ra mắt.

1983-1984: IBM hụt hơi - Thừa lợi thế nhưng thiếu tầm nhìn

Với tinh thần hừng hực khí thế, đội ngũ IBM ở Boca Raton đã ra mắt dòng máy tính cá nhân phiên bản mới - XT vào đầu năm 1983. Chưa dừng lại ở đó, năm 1984 lại tiếp tục ra mắt AT – phiên bản tiếp nối của XT.

Mặc dù XT và AT gặt hái được thành công rực rỡ, thì PCjr ra mắt cùng năm với AT lại là một cú ngã đau của IBM.

PCjr được thiết kế với mục tiêu chinh phục khách hàng cá nhân sử dụng trong các gia đình. Tuy nhiên, phiên bản nhỏ gọn này lại gây thất vọng ngay từ đầu: bàn phím thì quá nhỏ, tính năng thì eo hẹp, phần mềm thì lại không tương thích với các phiên bản khác. Kết quả là PCjr chìm vào quên lãng một cách nhanh chóng.

Trong suốt thời gian này, Opel - CEO của IBM - dường như không hoàn toàn hiểu được tầm quan trọng của thị trường máy tính cá nhân. Opel quyết định không theo đuổi dòng sản phẩm “bình dân” này. Về tổng thể, tình hình kinh doanh của IBM lúc bấy giờ là vô cùng rực rỡ. Doanh thu của IBM đạt 29 tỷ đô la vào năm 1981 và tăng lên 46 tỷ đô la vào năm 1984. Công ty liên tục được xếp hạng là một trong những doanh nghiệp được vận hành tốt nhất. Cổ phiếu của IBM cũng tăng hơn gấp đôi, biến IBM thành công ty có giá trị nhất thế giới.

Chính sai lầm này đã khiến IBM bỏ lỡ cơ hội để bỏ xa các đối thủ của mình và dần tụt hậu so với các đối thủ trong cuộc đua công nghệ đầy khốc liệt.

1986: IBM từ chối cơ hội vàng với Microsoft

Ít người biết rằng, vào giữa năm 1986, Gates đã đề nghị bán một phần Microsoft cho IBM. Lúc đó, tiềm năng của Microsoft là rõ như ban ngày. Nhưng IBM lại từ chối.

Có lẽ đây là sai lầm lớn thứ hai của IBM sau sai lầm đầu tiên là không yêu cầu quyền sở hữu đối với DOS của Microsoft hay chip Intel trong PC.

Giá mua lại vào năm 1986 có thể chỉ khoảng 100 triệu đô, nhưng đến năm 1993, con số này đã có thể là 3 tỷ đô và tiếp tục tăng theo cấp số nhân trong những thập kỷ tiếp theo.

Mặc dù vẫn bán được hàng triệu máy tính cá nhân, lợi nhuận mảng kinh doanh này của IBM theo thời gian cứ bốc hơi dần đều. Từ ông trùm nắm giữ 80% thị phần PC vào những năm 1982-1983, sau gần 1 thập kỷ, con số đó teo tóp chỉ còn 20%.

1987-1995: Chuỗi sai lầm liên tiếp của IBM

Sau khi từ chối đầu tư vào Microsoft, IBM lại bắt tay với họ phát triển hệ điều hành mới - OS/2. Nhưng họ không biết rằng Microsoft lúc đó cũng đang ấp ủ một sản phẩm khác - Windows - để thay thế hệ điều hành đang trở nên lỗi thời là DOS. IBM và Microsoft đã phát sinh nhiều vấn đề về bản quyền và cách thức hợp tác.

Đến năm 1987, IBM đã tập trung hết nhân lực với hơn 1000 lập trình viên cùng ngân sách khoảng 125 triệu đô mỗi năm cho dự án này, bao gồm cả phát triển viễn thông.

Cuối cùng thì OS/2 cũng ra mắt vào cuối năm 1987, với giá không hề rẻ 340 đô, chưa kể thêm 2.000 đô nữa để mua RAM để chạy. Nhưng lúc đó, Windows đã chễm chệ trên thị trường 2 năm và được lòng người dùng. Mãi đến một năm sau, các phần mềm ứng dụng dành cho OS/2 mới được phát triển rộng rãi, nhưng cũng chẳng gây được tiếng vang.

OS/2 đã bắt đầu mang mùi thất bại. Năm 1995, CEO IBM - Louis V. Gerstner Jr. - chính thức đóng sổ cho hệ điều hành OS/2.

Mặc dù nhiều người cho rằng phần mềm của IBM hoàn chỉnh hơn so với Windows đầy lỗi vặt, kết cục vẫn là một thất bại đắng cay: Windows thống trị 90% thị trường, trong khi OS/2 chỉ lẹt đẹt 5-6%.

2004: IBM cay đắng kết thúc cuộc hành trình với máy tính cá nhân

Cho đến năm 2002, IBM đã gắn bó với mảng máy tính cá nhân một thời gian dài. Lúc bấy giờ, Samuel J. Palmisano - một cựu nhân viên - lên nắm quyền điều hành, IBM vẫn đứng thứ ba trong lĩnh vực sản xuất máy tính cá nhân và laptop.

Tháng 12 năm 2004, IBM tuyên bố bán mảng máy tính cá nhân cho Lenovo với giá 1,75 tỷ đô la Mỹ.

Tuy nhiên, thị trường máy tính cá nhân đã trở thành chiến trường khốc liệt với vô số sản phẩm từ bình dân đến cao cấp, khiến IBM khó lòng kiếm lời từ dòng sản phẩm này. Palmisano cùng các nhà lãnh đạo đã đưa ra một quyết định dũng cảm: từ bỏ mảng máy tính cá nhân - sản phẩm từng được xem là công nghệ của thời đại của IBM.

Sau gần 25 năm ngự trị thị trường, IBM phải chấp nhận rút lui một cách không mấy vinh quang.

IBM: Hành trình đầy biến động trong thế giới Công Nghệ

Thị trường công nghệ mới toanh, béo bở ban đầu nhanh chóng trở thành một chiến trường khốc liệt với vô vàn đối thủ. IBM đã "vấp ngã" một cách đáng tiếc, vì cách tiếp cận thận trọng của họ không thể thích nghi trong một thị trường biến đổi nhanh chóng như công nghệ máy tính.

IBM, một tập đoàn đa quốc gia kiểu mẫu của Mỹ, đã nhận ra rằng tương lai của họ nằm ở những lĩnh vực 'cao cấp' hơn – cung cấp dịch vụ và tư vấn công nghệ, phần mềm và các siêu máy tính cho mạng lưới hệ thống của các tập đoàn công nghệ lớn trên khắp thế giới.

Hiện nay, mảng máy tính cá nhân đã được giao phó cho Lenovo. Dù không còn sản xuất PC, IBM vẫn ghi dấu ấn sâu đậm trong lịch sử phát triển máy tính cá nhân với vai trò "kẻ tiên phong" đầy kiêu hãnh.

16 tháng 9 năm 1985, Steve Jobs bị đá khỏi Apple - cú sốc và kết thúc tưởng chừng cho một đế chế công nghệ.

Đó là kết quả của cuộc chiến quyền lực không ngừng nghỉ giữa một CEO dày dặn kinh nghiệm 46 tuổi và chàng đồng sáng lập trẻ tuổi, cực kỳ thông minh, 30 tuổi của một trong những công ty máy tính phát triển nhanh nhất thế giới.

Vị CEO già dặn là John Sculley. Còn nhà sáng lập trẻ tuổi? Chính là Steve Jobs.

Ngay sau khi Sculley lên nắm quyền CEO của Apple Computer, Jobs nhận ra sự khác biệt trong phong cách lãnh đạo và tầm nhìn của họ sẽ trở thành một điểm tranh chấp lớn. Đến nỗi, lo sợ tương lai của công ty trẻ tuổi của mình dưới sự lãnh đạo của Sculley, Jobs đã lên kế hoạch tỉ mỉ vào đầu năm 1985 để loại ông ta khỏi Hội đồng quản trị của Apple.

Nhưng Jobs đã thất bại, và ông buộc phải rời xa đứa con tinh thần của mình – Apple – sau 9 năm gầy dựng. Nhà đồng sáng lập Apple đã bị sa thải khỏi công ty mà ông đã dồn hết tâm huyết.

1976: Hành trình từ bạn học đến đồng sáng lập Apple

Trong khoảng thời gian ở đại học, Jobs đã kết thân nhanh chóng với Wozniak – người bạn đang theo học Khoa học Máy tính và Kỹ thuật Điện tại Đại học California, Berkeley

Đến năm 1976, khi Wozniak giới thiệu với Jobs một sáng tạo mới nhất của mình: một thiết bị mà anh đặt tên là Máy tính Apple I.

Jobs đề nghị sản xuất và bán thiết bị này. Thị trường máy tính cá nhân đang bắt đầu hình thành ở Mỹ, và Jobs tin rằng những người đi đầu tiên như IBM đang bỏ lỡ một phân khúc thị trường quan trọng – những chiếc máy tính cá nhân dễ sử dụng và có giao diện thân thiện.

Jobs đã ví những chiếc máy tính của mình như những chiếc xe Volkswagen - không cần tốc độ nhanh, chỉ cần đẹp mắt và mang đến trải nghiệm tốt nhất cho người dùng.

Vào ngày 1 tháng 4 năm 1976, Jobs, Wozniak và Ronald Wayne chính thức thành lập Apple Computer Company. Mặc dù Wayne - một đồng nghiệp của Jobs tại Atari, 41 tuổi, nhanh chóng chùn bước và bán lại 10% cổ phần của mình trong Apple chỉ 12 ngày sau - nhưng điều đó không thành vấn đề.

Tháng 7 năm 1976, Máy tính Apple I chính thức được bán ra thị trường.

1977: Bước ngoặt quan trọng với sự đầu tư mạo hiểm

Wozniak đã bắt đầu lên kế hoạch cho một phiên bản cải tiến đáng kể so với chiếc máy tính đầu tiên của họ, trong khi Jobs thì ráo riết đi tìm nguồn tài chính. Sau cuộc họp thất bại với Don Valentine - một trong những ông trùm của ngành đầu tư mạo hiểm - đã dẫn đến cuộc gặp định mệnh với nhà đầu tư triệu phú Mike Markkula.

Kiếm được hàng triệu đô la từ khi còn trẻ nhờ cổ phiếu có được khi làm việc tại Intel và Fairchild Semiconductor, Markkula hiểu được tầm nhìn của Apple. Ông tham gia với tư cách đối tác và giúp công ty đăng ký thành lập, chính thức trở thành Apple Computer Inc. vào ngày 3 tháng 1 năm 1977. Với khoản đầu tư 80.000 đô la và việc cùng ký vào khoản vay ngân hàng 170.000 đô la, Markkula trở thành đối tác thứ ba sở hữu 33% cổ phần của Apple cùng với Jobs và Wozniak.

Nhờ nguồn tài chính dồi dào, Apple Computer Inc. bắt tay vào sản xuất Apple II của Wozniak và giới thiệu nó ra mắt công chúng vào ngày 16 tháng 4 năm 1977. Chiếc máy tính này là một cải tiến vượt bậc so với Apple I và đã bán được gần 6 triệu máy.

1980: Apple lột xác thành đế chế công nghệ

Vào năm 1980, Apple Computer Inc. đang trên đà trở thành chiếc Volkswagen của thế giới máy tính cá nhân. Máy tính Apple III ra mắt và một thiết bị bí mật mới mà Jobs gọi là Lisa cũng đang trong quá trình hình thành. Lisa được định hướng là một siêu máy tính cho doanh nghiệp, và là một trong những sản phẩm đầu tiên sử dụng giao diện người dùng đồ họa (GUI)

Đến lúc công ty trẻ tuổi này phải chuyển mình thành một tập đoàn lớn, Apple đã làm điều đó vào ngày 12 tháng 12 năm 1980, với lần chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO).

Ở tuổi 25, Steve Jobs sở hữu hơn 10% cổ phần của một công ty, với giá trị tài sản ròng cá nhân vượt quá 200 triệu đô la. Jobs được gọi là thần đồng của Thung lũng Silicon và cả thế giới máy tính. Nhưng anh ta sắp sửa học được bài học cay đắng - "trèo cao thì té đau".

1983 - 1984: Chuyển giao quyền lực và hành trình mới của Apple

Lisa ra mắt thị trường vào tháng 1 năm 1983 và sau đó trở thành một thất bại thảm hại đối với Apple Computer

Lúc này, Apple bắt đầu tìm kiếm các ứng cử viên CEO tiềm năng mới sau khi Markkula muốn nghỉ hưu và Jobs bị Hội đồng quản trị coi là quá thiếu kinh nghiệm. John Sculley, lúc bấy giờ đang giữ chức Chủ tịch Peps, được chọn nhậm chức CEO của Apple Computer Inc. vào ngày 8 tháng 4 năm 1983.

@lichsuthuonghieu 1984: Apple tái định nghĩa Thương Hiệu với quảng cáo tại Super Bowl đầy cảm xúc! #thuonghieu #marketing #lichsuthuonghieu ♬ original sound - Nooby Làm Video Ngắn - Thương Hiệu &Marketing Vietnam

Tháng 1 năm 1984, Macintosh được giới thiệu với thế giới với quảng cáo Super Bowl mang tính biểu tượng do Ridley Scott đạo diễn mang tên 1984.

Hai ngày sau đó, Macintosh được bán ra thị trường và ngay lập tức nhận được sự đánh giá tích cực từ các nhà phê bình. Mặc dù doanh số ban đầu rất khả quan nhờ quảng cáo 1984, nhưng đến mùa hè thì con số này giảm dần.

1985: Bước ngoặt của Steve Jobs và Apple - Kết thúc một kỷ nguyên

Sau một mùa hè mệt mỏi chiến đấu và suy tính về cách lấy lại quyền lực trong Apple, Jobs cuối cùng cũng nhận ra rằng mình đã bị mất gần hết tầm ảnh hưởng.  

Đầu năm 1985 Wozniak rời đi vì bất đồng với định hướng hiện tại của công ty. Và vào ngày 16 tháng 9 năm 1985 - sau một tuần chiến đấu đặc biệt căng thẳng với Sculley và Hội đồng quản trị - Steve Jobs không còn nơi nào để đi, và buộc phải làm một điều mà ông chưa bao giờ nghĩ mình phải làm: từ chức khỏi Apple Computer.

Bước ra khỏi cửa lần cuối cùng, Jobs không chỉ nói lời tạm biệt với một công ty. Ông đang nói lời tạm biệt với lý tưởng cuộc đời của mình. Tính cách và tâm hồn của ông gắn bó chặt chẽ với công việc kinh doanh đến mức rời đi, ông cảm thấy như một phần của mình đang chết.

Ngày 16 tháng 9 năm 1985, anh nộp đơn xin từ chức. Kỷ nguyên Steve Jobs của Apple đã kết thúc.

1986 - 1990: Steve Jobs khởi nghiệp và nuôi dưỡng tâm huyết

Vừa rời khỏi Apple, Jobs đã ngay lập tức thành lập NeXT Computer. đội ngũ của Jobs bắt tay vào thiết kế sản phẩm đầu tiên: Máy tính NeXT. Jobs đặt chiến lược của NeXT xung quanh những cỗ máy hiệu suất cao nhắm vào thị trường giáo dục. Mặc dù Máy tính NeXT sẽ rất mạnh mẽ, Jobs và công ty cũng muốn nó đủ giá cả để sinh viên có thể mua được.

Máy tính NeXT được giới thiệu vào ngày 12 tháng 10 năm 1988 và được bán ra thị trường vào đầu năm 1989. Tiếp theo đó là model thế hệ thứ hai có tên The NeXTstation, ra mắt vào năm 1990.

Mặc dù sự thành công thương mại của máy tính NeXT không bao giờ thành hiện thực - một phần do việc không thể giảm giá xuống đủ thấp để bán đại trà - nhưng hệ điều hành NeXTSTEP của Jobs phát triển thực sự vượt xa thời đại.

Bên cạnh đó, Jobs đã đầu tư vào một công ty đồ họa máy tính ít người biết đến đang được tách ra từ LucasFilm. Lúc bấy giờ, công ty này chỉ được biết đến đơn giản là The Graphics Group. Nhưng sớm thôi, với Jobs giữ vị trí Giám đốc điều hành, nó đã đổi tên thành cái tên mà chúng ta biết và yêu thích ngày nay: Pixar.

1995-1997: Steve Jobs quay trở lại mở ra kỷ nguyên mới của Apple

Mọi chuyện với Jobs đang diễn ra suôn sẻ vào năm 1995. Mười năm sau khi rời Apple, anh giờ đây là Giám đốc điều hành của công ty hoạt hình đầy triển vọng nhất Hollywood. Vào ngày 22 tháng 11, Pixar tung ra phim hoạt hình dài tập đầu tiên: Toy Story - bộ phim nhận được thành công vang dội về cả mặt thương mại lẫn phê bình, thu về gần 400 triệu đô la.

Trong suốt thời gian đó, Jobs vẫn điều hành NeXT. Công ty tập trung hoàn toàn vào mảng phần mềm và hệ điều hành sau khi loại bỏ mảng sản xuất phần cứng.

Vào ngày 20 tháng 12 năm 1996 - 11 năm và 91 ngày sau khi Steve Jobs bước ra khỏi cửa - Apple Computer Inc. đã công khai thông tin về thỏa thuận mua lại NeXT, đồng nghĩa với việc chào đón Jobs trở về.

Đến tháng 2 năm 1997, thỏa thuận được hoàn tất. Jobs từ chối nhận bất kỳ khoản tiền mặt nào. Thay vào đó, anh ấy sở hữu 1,5 triệu cổ phiếu của Apple Computer Inc.

Đã đến lúc Jobs mở ra một kỷ nguyên mới cho Apple.

1997 - Steve Jobs trở lại: đưa Apple lên đỉnh cao đế chế công nghệ

Năm 1997, Jobs được bổ nhiệm làm CEO -Những gì diễn ra sau đó là một trong những màn lật ngược tình thế đáng kinh ngạc nhất lịch sử công ty.  Dưới thời đại Steve Jobs mới mẻ này, Apple đã trở thành một đế chế công nghệ mạnh mẽ nhất đến tận ngày nay.

Đầu tiên, Apple định nghĩa lại máy tính cá nhân với việc ra mắt iMac vào năm 1998. Sau đó là iBook vào năm 1999. Kế đến, vào ngày 23 tháng 10 năm 2001, Apple đã định nghĩa lại cách chúng ta thưởng thức âm nhạc với sự ra mắt của iPod. Đến năm 2003, iPod đã được nạp đầy những bài hát được tải trực tiếp từ cửa hàng iTunes của Apple, chạy trên các thế hệ mới của iMac, iBook và PowerBook. Từ năm 2004 đến năm 2006, Apple cho ra mắt hàng loạt phiên bản iPod mới nổi tiếng, cùng với chiếc MacBook giờ đây đã trở nên phổ biến.

Và vào ngày 29 tháng 6 năm 2007, thế giới đã mãi mãi thay đổi với sự ra mắt của iPhone.

Dĩ nhiên, phần còn lại là lịch sử. Khi Steve Jobs lên nắm quyền Giám đốc điều hành vào năm 1997, doanh thu hàng năm của Apple Computer Inc. là 7 tỷ USD. Đến năm 2007 - năm iPhone ra mắt - con số này đã phình to lên 27 tỷ USD. Và đến năm 2011, năm Jobs từ chức CEO để tập trung vào các vấn đề sức khỏe ngày càng nghiêm trọng, con số đó đã tăng vọt lên 121 tỷ USD.

Năm 2018, Apple đạt doanh thu 265 tỷ USD. Cũng trong năm này, họ trở thành công ty đầu tiên trong lịch sử đạt được mức định giá 1 nghìn tỷ USD.

Tính đến ngày nay, iPod vẫn giữ vững ngôi vị thiết bị nghe nhạc di động bán chạy nhất mọi thời đại, và iPhone đã trải qua nhiều năm thống trị với vị trí smartphone bán chạy nhất mọi thời đại.

Steve Jobs: 35 năm hành trình thay đổi lịch sử công nghệ

Câu chuyện này dần trở thành huyền thoại của Thung lũng Silicon. Steve Jobs cùng những người đồng sáng lập - Steve Wozniak và Ronald Wayne - đã khởi nghiệp Apple ngay trong gara của ngôi nhà thời thơ ấu của Jobs trên đường Crist Drive ở Los Altos, California.

Chỉ trong 9 năm ngắn ngủi, từ một nhà để xe ở Los Altos, California, công ty này đã vươn lên thành một đế chế công nghệ trị giá hàng tỷ đô la.

Mặc dù trải qua nhiều khoảng thời gian thăng trầm, có lúc mọi thứ đã trở nên thật sự u ám nhưng tâm huyết của Jobs với Apple vẫn không thay đổi. Phải mất 35 năm - 24 năm với Apple và 11 năm xa cách - Steve Jobs đã thành công hiện thực hóa tầm nhìn của mình. Ông đã để lại di sản to lớn cho thế giới và sẽ mãi được ghi nhớ như một trong những nhà lãnh đạo vĩ đại nhất trong lịch sử ngành công nghệ.

Cái tên Batman chắc hẳn không còn xa lạ gì với những fan đam mê truyện tranh. Kể từ lần xuất hiện đầu tiên vào năm 1939, Batman - Người Dơi - đã trở thành biểu tượng văn hóa đình đám, làm mưa làm gió trong ngành công nghiệp truyện tranh và góp phần định hình hình tượng siêu anh hùng nói chung.

Xuất hiện lần đầu trong Detective Comics vào năm 1939, cho đến nay, Batman vẫn là một trong những siêu anh hùng nổi tiếng và có sức ảnh hưởng bậc nhất.

Nhưng điều gì đã giúp Batman trường tồn với thời gian, bất chấp sự ra đời của hàng loạt các siêu anh hùng mới và sự thay đổi của cả thế giới truyện tranh lẫn truyền hình?

Câu trả lời chính là khả năng thích nghi với sự thay đổi. Giống như những “story” trên mạng xã hội liên tục cập nhật, Batman cũng không ngừng lột xác và phát triển theo thời gian.

Batman: bí mật sau lớp mặt nạ

Chuyện bắt đầu từ năm 1939, khi DC Comics đang tìm kiếm một siêu anh hùng mới, bên cạnh đứa con cưng trước đó Superman. Lúc này, họa sĩ Bob Kane đã bắt tay với biên kịch Bill Finger, tạo nên Batman. Cùng nhau, họ cho ra đời tựa truyện đầu tiên về Batman: "The Case of the Chemical Syndicate" (Vụ án Tập đoàn Hóa chất). Bộ chuyện đã làm nên cơn sốt trên các sạp báo vào ngày 30 tháng 3 năm 1939.

Ngay từ lần xuất hiện đầu tiên, độc giả đã được giới thiệu với một siêu anh hùng với bộ trang phục “dơi” đặc trưng, khuôn mặt lạnh lùng, quyết tâm chiến đấu vì công lý.

Thông điệp xuyên suốt các câu chuyện về Batman khá đơn giản - "Ở đâu có tội ác, ở đó có anh hùng Batman lo”.

Ngoài thân phận siêu anh hùng, Batman còn có 1 câu chuyện cá nhân khác - Bruce Wayne, chàng tỷ phú mồ côi bố mẹ từ nhỏ. Trong mắt những người xung quanh, Bruce Wayne chỉ là một người đàn ông bình thường, chẳng ai mảy may nghi ngờ anh chàng chính là siêu anh hùng "Batman".

Năm 1943 đánh dấu cột mốc quan trọng khi bộ phim Batman đầu tiên ra đời. Kể từ đó, hình ảnh Batman xuất hiện trên màn ảnh rộng vô số lần, với hơn 10 bộ phim riêng biệt.

1943-1949: Lần xuất hiện đầu tiên của Batman

Logo Batman 1939-1941
Logo Batman 1939-1941

Trước khi có những bộ phim điện ảnh về Batman, đã có hai series phim truyền hình là "Batman" và "Batman và Robin". Đây là lần đầu tiên nhân vật Batman được giới thiệu trên màn ảnh nhỏ. Trước đó, mọi người chỉ biết đến Batman qua những trang truyện tranh.

1966: Ra mắt phim điện ảnh "Batman: The Movie"

Logo Batman 1964-1966
Logo Batman 1964-1966

Sau thành công của hai series phim truyền hình, 20th Century Fox đã tạo ra một bộ phim điện ảnh chuyển thể có tên "Batman: The Movie". Diễn viên Adam West vào vai Batman và bộ phim này được coi là động lực thúc đẩy cho tất cả các phim về Batman mà chúng ta yêu thích ngày nay. Nếu không có bộ phim đầu tiên này, có lẽ các nhà sản xuất và đạo diễn sẽ không bao giờ biết được sức hút của Batman trên màn ảnh rộng.

1989-1997: Kỷ nguyên của Bóng Tối và Màu Sắc

Logo Batman 1966–2000
Logo Batman 1966–2000

Gần hai thập kỷ sau bộ phim Batman đầu tiên, đạo diễn Tim Burton đã thổi hồn vào một kịch bản Batman khác với tựa đề "Batman" vào năm 1989. Phim có sự tham gia của Michael Keaton trong vai Batman và Jack Nicholson với vai diễn Joker siêu kinh điển. Bộ phim đã thu về hơn 400 triệu đô la Mỹ tại phòng vé, giành giải Oscar cho hạng mục Thiết kế mỹ thuật xuất sắc nhất và phá vỡ hàng loạt kỷ lục phòng vé.

Cơn sốt Batman không dừng lại ở đó. Năm 1992, Tim Burton tiếp tục cho ra đời bộ phim thứ 2 - "Batman Returns", với Michael Keaton tiếp tục đảm nhận vai chính. Lần này, bộ phim mang đến một câu truyện hoàn toàn mới, mở rộng thêm vũ trụ Batman. "Batman Returns" còn khiến người xem mãn nhãn với dàn diễn viên phụ khét tiếng gồm Michelle Pfeiffer hóa thân thành Catwoman và Danny DeVito trong vai Penguin.

Tuy nhiên, hai phần tiếp theo của Batman lại chuyển hướng sang một phong cách khác biệt dưới sự dẫn dắt của đạo diễn Joel Schumacher. Đây là kỷ nguyên của "Batman Forever" (1995) và "Batman & Robin" (1997). Với định hướng xây dựng cốt truyện hướng đến đối tượng rộng rãi hơn, Michael Keaton đã quyết định dừng vai diễn Batman vàVal Kilmer được chọn thay thế trong. Mặc dù không được đề cử Oscar như Batman Returns, bộ phim vẫn mang về hơn 350 triệu đô la Mỹ.

2005-2012: Bóng đêm trỗi dậy

Logo Batman 2024
Logo Batman 2024

Sau một thời gian nghỉ ngơi, Người Dơi tái xuất màn ảnh rộng với bộ ba phim The Dark Knight cực kỳ hoành tráng. Cả ba phần đều được nhào nặn bởi đạo diễn tài ba Christopher Nolan.

Phần mở đầu - Batman Begins - ra mắt vào năm 2005. Khác với những phiên bản trước, bộ ba phim này mang tông màu u tối hơn, với Christian Bale thủ vai Batman xuyên suốt. Ngay trong tuần đầu công chiếu, bộ phim đã thu về gần 50 triệu đô la Mỹ - một con số không hề nhỏ.

Năm 2008, phần hai mang tên The Dark Knight chính thức gây bão. Phim quy tụ dàn diễn viên đình đám bao gồm cố diễn viên Heath Ledger, Aaron Eckhart và Maggie Gyllenhaal. Tiếp nối thành công của phần 1, "The Dark Knight" đã vượt mốc 1 tỷ đô la doanh thu và nhận được 8 đề cử Oscar.

Phần cuối cùng của bộ ba phim - The Dark Knight Rises - ra mắt vào năm 2012. Dàn diễn viên tiếp tục được mở rộng với sự tham gia của Anne Hathaway, Joseph Gordon-Levitt và Tom Hardy. The Dark Knight Rises đã thu về gần 1,1 tỷ đô la Mỹ.

2016-2023: Batman gia nhập Vũ trụ Điện ảnh DC

Nếu bạn là fan cứng của DC, chắc hẳn bạn đã quen thuộc với Vũ trụ Điện ảnh DC (DC Universe) rồi. Đây là nơi hội tụ các bộ phim về siêu anh hùng, và dĩ nhiên, Batman cũng góp mặt không ít. Trong hầu hết các phim này, Ben Affleck là người đảm nhận vai Batman.

Loạt phim điện ảnh mới nhất: The Batman

Năm 2022, đạo diễn Matt Reeves đã thổi 1 làn gió mới vào bộ phim The Batman để đánh dấu sự trở lại của siêu anh hùng trên màn ảnh. Trong phiên bản mới nhất này, Robert Pattinson sẽ vào vai chính. Dự kiến, Robert sẽ tiếp tục đảm nhận vai Người Dơi trong phần hậu truyện The Batman Part II, dự kiến ra mắt vào năm 2025.

Sức hút bất chấp thời gian của "kẻ thù" Batman

Trong danh sách đề cử cho Giải Oscar lần thứ 92, bộ phim về nguồn gốc đầy bạo lực và u tối của kẻ thù không đội trời chung của Batman – Joker – đã dẫn đầu với 11 đề cử.

Câu chuyện về kẻ thủ lớn của Batman - Joker - được cả khán giả và giới phê bình yêu thích. Bộ phim thống trị phòng vé, nhanh chóng trở thành phim hạng R có doanh thu cao nhất mọi thời đại, và là phim đầu tiên vượt qua mốc 1 tỷ đô la. Đây cũng là kỷ lục phim chuyển thể từ truyện tranh có lợi nhuận cao nhất mọi thời đại.

Với tất cả những thành công về mặt thương mại và chuyên môn này, bộ phim Joker được đề cử nhiều giải thưởng không khiến nhiều người ngạc nhiên. Nhưng nếu bạn dừng lại và suy nghĩ một chút, thì điều đó thực sự khá đáng kinh ngạc.

Tại sao? Bởi vì Joker đã hơn 80 tuổi!

Thương hiệu Batman: chinh phục khán giả qua nhiều thập kỷ

Sau 12 bộ phim về siêu anh hùng Batman, khán giả vẫn chưa bao giờ cảm thấy ngán. Vậy điều gì khiến thương hiệu “Dơi” vượt thời gian và gặt hái được thành công vang dội như vậy?

Đơn giản thôi!

Vì những nhà sáng tạo tài ba tại DC Comics hiểu sức mạnh của Storytelling - nghệ thuật xây dựng và kể chuyện để thu hút và chinh phục khán giả. Cũng giống như cách Batman tạo ra nhiều thế hệ fan hâm mộ, các thương hiệu muốn xây dựng hình ảnh ấn tượng cần làm được điều tương tự.

Thực tế, loạt phim Batman kể chuyện hay đến mức không học hỏi từ họ thì quả là một tội ác!

Phần 2: Sức mạnh Storytelling: Biến khách hàng thành fan của thương hiệu  

ChatGPT, cỗ máy Trí Tuệ Nhân Tạo đình đám được OpenAI ra mắt vào cuối năm 2022, là đứa con tinh thần của hai cái tên đình đám: Elon Musk và Sam Altman. Chẳng có gì bất ngờ khi cỗ máy có khả năng trò chuyện y hệt như con người này nhanh chóng làm mưa làm gió trên thế giới, thu hút hơn một triệu người dùng thử nghiệm chỉ trong tuần đầu tiên.

Hai năm qua, độ hot của ChatGPT chưa từng giảm nhiệt, hứa hẹn sẽ còn bùng nổ trong tương lai. Mà cũng phải thôi, trong cả thập kỷ vừa qua, Trí Tuệ Nhân tạo (AI – Artificial intelligence) đã phát triển vượt bậc, và sự xuất hiện của ChatGPT mang đến một làn gió mới mẻ và thú vị.

Nền tảng này được thiết kế để thể hiện tất cả những gì mà 1 chatbot – hệ thống có thể hiểu yêu cầu và đưa ra phản hồi - sở hữu, bao gồm sự thông minh và khả năng giao tiếp. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng khám phá lịch sử của ChatGPT và hành trình để thương hiẹu này đạt đến đỉnh cao như hiện tại.

ChatGPT - Cơn gió mới thổi bùng làng công nghệ

ChatGPT là một nền tảng Trí Tuệ Nhận Tạo có thể trò chuyện với bạn y hệt như người thật. Nhờ vào công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (natural language processing), ChatGPT có thể hiểu và đáp lại những gì bạn nói một cách mượt mà, tự nhiên.

Điểm nổi trội nhất của ChatGPT chính là khả năng trò chuyện đỉnh cao, khiến bạn cảm giác như đang nói chuyện với một con người thật. Ngoài khả năng “hỏi-đáp” thông thường, ChatGPT còn có thể trả lời các câu hỏi nối tiếp, bắt bẻ những thông tin sai lệch, và hơn thế nữa!

ChatGPT còn là trợ thủ cho những người làm công việc “sáng tạo” nội dung. Chỉ cần đưa ra yêu cầu, ChatGPT có thể “xuất khẩu” ra đủ thể loại văn bản như bài luận, email, hay thậm chí cả thơ ca. Điều khiến người dùng luôn cảm thấy bất ngờ chính là khả năng ChatGPT tao ra những đoạn văn và câu trả lời giống hệt con người.

ChatGPT – Bước tiến lịch sử của Trí Tuệ Nhân Tạo

ChatGPT của OpenAI
ChatGPT của OpenAI

ChatGPT không phải nền tảng Trí Tuệ Nhận Tạo đầu tiên. Tuy nhiên, đây chính là "cú hích" quan trọng, đánh dấu bước tiến nhảy vọt trong khả năng xử lý và phản hồi bằng ngôn ngữ thật - sự trỗi dậy của AI.

Đứng sau cỗ máy này chính là OpenAI, một công ty nghiên cứu và triển khai các công nghệ Trí Tuệ Nhân Tạo. OpenAI được thành lập vào năm 2015 bởi hai bộ óc siêu phàm: Sam Altman và Elon Musk, lúc bấy giờ là đồng chủ tịch. Tuy nhiên, Musk đã rời khỏi hội đồng quản trị vào năm 2018, và Altman lên thay thế vào năm sau. Cùng góp sức tạo nên OpenAI còn có Greg Brockman, Giám đốc Công nghệ (CTO) và Ilya Sutskever, Giám đốc Nghiên cứu.

OpenAI ban đầu là một tổ chức nghiên cứu Trí Tuệ Nhân Tạo phi lợi nhuận, với sứ mệnh phát triển trí thông minh tổng hợp nhân tạo (AGI) nhằm hỗ trợ và mang lại lợi ích cho loài người.

Đến năm 2019, khi Musk rời đi và Altman lên nắm quyền, OpenAI chuyển sang mô hình mới, với mục tiêu là thu hút thêm nhà đầu tư, từ đó đẩy nhanh quá trình nghiên cứu và phát triển.

OpenAI LP, một pháp nhân mới hoạt động dưới sự kiểm soát của OpenAI Inc. Ngoài ra, Microsoft cũng tham gia với vai trò nhà đầu tư và sở hữu một phần nhỏ cổ phần, cùng với khoản đầu tư từ Elon Musk.

Với sự hậu thuẫn của các ông lớn, OpenAI có thể tập trung toàn lực vào các hệ thống AI mới. Và Altman chính là bộ não đứng sau sáng kiến khởi động dự án ChatGPT.

Logo gây ấn tượng của ChatGPT  

Logo đầu tiên của ChatGPT ra mắt vào tháng 11 năm 2022 và giữ nguyên cho đến tận bây giờ. Thiết kế logo đơn giản với một hình khối giống như một lục giác cách điệu. Các góc của hình được bo tròn mềm mại, các cạnh nối nhau tạo cảm giác như những mắt xích.

Logo ChatGPT Hành trình từ người trò chuyện thành trợ thủ đa năng
Logo ChatGPT - Hành trình từ người trò chuyện thành trợ thủ đa năng

Nhìn kỹ hơn, logo này còn gợi liên tưởng đến một cơn lốc xoáy thu nhỏ, giống như biểu tượng thường thấy khi tải trang web hoặc mở ứng dụng. Thậm chí, có người còn cho rằng logo của ChatGPT giống với biểu tượng vô cực của người Armenia thời xưa.

GPT-1: Ra mắt ấn tượng

Tháng 6 năm 2018 đánh dấu sự ra đời của GPT-1 – nền tảng đầu tiên của, với 117 triệu tham số (parameter – dữ liệu được đưa cho AI phân tích và tổng hợp thành dữ liệu của hệ thống) . Ngay khi ra mắt, GPT-1 đã nhanh chóng nổi đình nổi đám nhờ khả năng xử lý đa dạng và tốc độ ấn tượng. GPT-1 hoàn chình các nhiệm vụ phân tích cảm xúc, đọc hiểu văn bản và nhiều chức năng khác, khiến người dùng thích thú và thấy hữu ích.

GPT-2: Nâng cấp sức mạnh

Tháng 2 năm 2019, OpenAI giới thiệu GPT-2 với 1,5 tỷ tham số. Phiên bản này cho phép nền tảng khai thác thông tin từ internet và trả lời các truy vấn của người dùng.

GPT-2 có khả năng thực hiện nhiều tác vụ hơn với tốc độ nhanh hơn, đồng thời có thể xử lý đa dạng chức năng mà không cần huấn luyện chuyên sâu cho từng nhiệm vụ cụ thể. OpenAI đã khôn ngoan khi cho ra đời những phiên bản cải tiến nhỏ để hỗ trợ nghiên cứu hiệu quả.

GPT-3: Ông vua của Trí Tuệ Nhân Tạo

Năm 2020, OpenAI chính thức bước vào kỷ nguyên GPT-3 với 175 tỷ tham số - số lượng dữ liệu nhất được đưa vào để huấn luyện 1 hệ thống AI từ trước đến nay. Mặc dù sở hữu sức mạnh vượt trội, GPT-3 cũng vướng phải lo ngại về vấn đề thông tin sai lệch.

OpenAI đã cung cấp quyền truy cập công khai vào GPT-3 thông qua API. Điều này cho phép các bên thứ ba tận dụng công nghệ AI, đồng thời giúp OpenAI kiểm soát quyền truy cập.

GPT-3.5: InstructGPT ra đời

InstructGPT ra đời vào tháng 1/2022 - với sứ mệnh nâng cấp ChatGPT, giảm thiểu những phản hồi gây khó chịu, đảm bảo thông tin chính xác và cung cấp câu trả lời hữu ích nhất cho người dùng.

GPT-3.5 chính là bộ não quyền lực hiện tại của ChatGPT. Đây là phiên bản nâng cấp của GPT-3, có khả năng hiểu và tạo ra cả đoạn hội thoại dùng ngôn ngữ tự nhiên, cũng như phản hồi những đoạn mã lệnh (source code) hỗ trợ những người developer.

GPT-4: Thấu hiểu mọi thử thách

Tháng 3 năm 2023, GPT-4 chính thức trình làng với gói đăng ký ChatGPT Plus trả phí. Phiên bản này giúp ChatGPT vượt trội trong các tác vụ phức tạp. Mỗi bản cập nhật đều hướng đến mục tiêu cải thiện độ chính xác của câu trả lời và giảm thiểu tối đa các phản hồi tiêu cực.

Điểm nhấn của GPT-4 là khả năng "đọc hiểu" yêu cầu, lên đến 25.000 từ cho người dùng trả phí. Ngoài ra, GPT-4 còn có thể xử lý cả hình ảnh.

ChatGPT vs InstructGPT

Cả hai nền tảng đều được huấn luyện từ kho dữ liệu khổng lồ gồm văn bản và code, đồng thời cung cấp các phản hồi giống hệt con người. Cấu trúc hoạt động cũng tương tự nhau: người dùng đặt câu hỏi và nhận câu trả lời. Tuy nhiên, vẫn có những điểm khác biệt giúp chúng ta dễ dàng phân biệt:

InstructGPT: trợ thủ đắc lực

InstructGPT được tinh chỉnh từ mô hình GPT-3 của OpenAI, hướng đến việc hiểu rõ câu hỏi của người dùng và đưa ra câu trả lời chính xác. Nói cách khác, InstructGPT sẽ làm việc như 1 trợ thủ đắc lực của người dùng.

ChatGPT: trò chuyện chân thật

ChatGPT sở hữu khả năng trong việc ghi nhớ nội dung xuyên suốt. Dù cuộc trò chuyện kéo dài bao lâu, ChatGPT vẫn có thể nhớ rõ các chi tiết và duy trì mạch lạc.

Tóm lại, điểm khác biệt chính giữa ChatGPT và InstructGPT nằm ở mục đích sử dụng: ChatGPT thiên về các cuộc trò chuyện thông thường, trong khi InstructGPT tập trung hỗ trợ người dùng chi tiết hơn.

Thương Hiệu ChatGPT: Hành trình từ người trò chuyện thành trợ thủ đa năng

OpenAI liên tục cải tiến ChatGPT qua từng năm, và mỗi bản cập nhật đều đánh dấu bước tiến vượt bậc của nền tảng này. Không chỉ gây bão ngay từ khi ra mắt, mỗi phiên bản mới của ChatGPT lại thay đổi cách nhìn của chúng ta về công nghệ của tương lai – Trí Tuệ Nhân Tạo.

Tuy nhiên, quyền truy cập dữ liệu cá nhân của người dùng cũng là một vấn đề đáng lưu tâm đối với các mô hình như ChatGPT. Hiện tại, ChatGPT đang nỗ lực để cân bằng giữa tính riêng tư và hiệu quả hoạt động.

Với những bước tiến ngoạn mục, ChatGPT ngày càng trở nên thông minh, hữu ích và đáng tin cậy hơn. Chắc chắn trong tương lai, ChatGPT sẽ còn tiếp tục phát triển và mang đến nhiều bất ngờ thú vị.

Bánh snack khoai tây chiên, món ăn không thể thiếu của các tín đồ sành ăn vặt, đã xuất hiện từ cả trăm năm trước và luôn được yêu thích bởi hương vị thơm ngon, giòn tan. Tuy nhiên, điểm trừ lớn nhất của món ăn này chính là sự "mong manh dễ vỡ", đặc biệt khi bảo quản và vận chuyển trong môi trường quân đội. Và thế là, Bộ phận Hậu cần của Quân đội Mỹ đã bắt tay hợp tác với Bộ Nông nghiệp Mỹ để nghiên cứu và phát triển công thức bánh snack "đủ mềm để không nát, đủ giòn để bùng nổ". Pringles chính là một trong những thương hiệu đầu tiên mang sản phẩm này đến với người tiêu dùng trên thị trường.

Từ khi ra đời, Pringles đã luôn được các tín đồ ăn vặt yêu thích. Không chỉ bởi hình dáng độc đáo khác biệt so với các loại snack khác, mà còn bởi niềm vui khó tả khi bạn nhìn thấy biểu tượng đang tươi cười với bạn - ông già Pringles - trên hộp bánh.

Giống như bất kỳ thương hiệu nào, Pringles cũng có câu chuyện riêng của mình. Một câu chuyện đầy thú vị, từ những bước đi đầu tiên cho đến khi trở thành ông vua bánh snack được biết đến rộng rãi nhất trên thế giới. Hãy cùng khám phá lịch sử Pringles và hành trình huyền thoại của thương hiệu này nhé.

Pringles – quyết tâm không trở nên “dễ vỡ”

Mặc dù phải đến tận năm 1968, bánh snack Pringles mới chính thức ra mắt công chúng, nhưng hành trình phát triển sản phẩm đã bắt đầu gần 10 năm trước đó. Khác với những loại bánh snack khoai tây thông thường, Pringles chỉ chứa 40% khoai tây. Để giữ được hình dạng, độ giòn và hương vị, công thức của họ là trộn khoai tây với bột mì, tinh bột, dầu thực vật và chất nhũ tương. Cách làm này tuy gây ra một chút tranh cãi nho nhỏ, nhưng chẳng thể phủ nhận được sự thật là Pringles đã trở thành món bánh snack gắn liền với tuổi thơ của nhiều người, và cho đến tận bây giờ, chúng ta vẫn mê mẩn hương vị của nó.

Và người hùng đứng sau sự ra đời của món bánh snack huyền thoại này chính là Alexander Liepa, một nhà hóa học tài ba của Procter & Gamble. Ông đã tạo ra những miếng bánh hình yên ngựa với hương vị không hề thua kém các đối thủ. Điểm đặc biệt là Pringles không bị nhiều dầu mỡ và cũng không “mong manh dễ vỡ” như những sản phẩm khác trên thị trường.

Một điểm cộng nữa cho Pringles là họ không vội vã tung sản phẩm ra thị trường. Sau khi Alexander phát triển được loại bánh snack này, phải đến năm 1968, Pringles mới chính thức chào đời với một chiến lược marketing, tên thương hiệu và thiết kế được lên kế hoạch tỉ mỉ. Và đó chính là một chiến lược marketing thành công, bởi cho đến ngày nay, Pringles là một thương hiệu mà bất kỳ ai cũng có thể dễ dàng nhận ra.

1956: Ý tưởng về Pringles ra đời

Logo Pringles 1967-1986
Logo Pringles 1967-1986

Trước Pringles, bánh snack khoai tây thường bị chê là nhiềudầu mỡ và dễ nát. Vào năm 1956, Procter & Gamble quyết tâm tìm công thức mới phục vụ cho các tín đồ sành ăn vặt. Vậy là họ giao phó trọng trách này cho Frederic J. Bauer, một nhà hóa học tài ba.

1965: Những ngày đầu của Pringles

Mất gần 10 năm để biến ý tưởng thành hiện thực, Bauer là người tạo ra hình dáng yên ngựa độc đáo của bánh snack Pringles mà chúng ta yêu thích ngày nay. Tuy nhiên, công thức ban đầu của ông lại chưa thực sự chinh phục được khẩu vị của các tín đồ sành ăn.

Mặc dù vậy, Bauer vẫn xứng đáng được ghi nhận công lao khi phát minh ra hộp đựng hình ống - bao bì đặc trưng của Pringles cho đến tận bây giờ. Thiết kế này giúp cho bánh snack không bị bể nát khi vận chuyển đến tay người tiêu dùng.

1968: Pringles chính thức có chỗ trên các kệ hàng

Alexander Liepa, một nhà nghiên cứu khác của Procter và Gamble, là người tạo nên hương vị thơm ngon đặc trưng của Pringles, vì vậy tên của ông xuất hiện trên bằng sáng chế thay vì Bauer.

Vào năm 1968, Pringles chính thức được bán ra tại Indiana và nhanh chóng phủ sóng khắp nước Mỹ. Từ đó, hành trình chinh phục vị giác của các tín đồ sành ăn vặt trên toàn thế giới của Pringles bắt đầu.

1980-1990: Pringles bùng nổ và thống trị các siêu thị

Logo Pringles 1986-1996
Logo Pringles 1986-1996

Những năm 80 chứng kiến bước ngoặt của Pringles. Chiến dịch marketing “Fever for the Flavor of Pringles” kết hợp với những quảng cáo trên truyền hình với sự tham gia của tài tử Brad Pitt đã giúp Pringles bùng nổ doanh số. Làn sóng hâm mộ Pringles cuồn cuộn kéo đến, đến lúc thương hiệu Pringles phải phát triển cho thời đại mới.

1991: Pringles vươn tầm quốc tế

Logo Pringles 1996-2002
Logo Pringles 1996-2002

Sau thành công vang dội tại Mỹ, Pringles không dừng lại mà tiếp tục chinh chiến thị trường quốc tế. Đây cũng là năm ra đời những slogan siêu sốt -" Once you pop, the fun don’t stop" và "Once you pop, you can't stop" – kéo dài suốt 25 năm. Đến năm 1995, Pringles đã có mặt tại châu Âu, Nam Mỹ và châu Á. Để chiều lòng tín đồ sành ăn trên thế giới, Pringles tung ra loạt hương vị độc đáo như Mùi cocktail tôm, Rong biển, Jambon Serrano và Việt Quất.

2008: Lời tri ân đến Frederic J. Bauer

Logo Pringles 2002-2009
Logo Pringles 2002-2009

Mặc dù Bauer không được ghi nhận sáng tạo ra hương vị khoai tây, mà chỉ có hộp đựng, nhưng ông chính là người đặt nền móng cho hộp bánh đặc trưng của thương hiệu Pringles ngày nay. Để bày tỏ sự tôn trọng với những đóng góp của ông, gia đình đã an nghỉ tro cốt của Bauer trong một hộp Pringles - đúng như thiết kế ông tạo từ nhiều năm trước.

2013: Pringles giữ sức hút với những chiêu “hack” viral

Logo Pringles 2009-2020
Logo Pringles 2009-2020

Gần 50 năm trôi qua mà sức hút của Pringles vẫn chẳng hề giảm! Năm 2013, cả thế giới dậy sóng với những  chiêu "hack" Pringles siêu đỉnh. Mọi người đua nhau chia sẻ video về tuyệt chiêu dùng 1 tờ giấy để lấy hết bánh snack trong hộp ra chỉ trong một nốt nhạc. Sau đó, cộng đồng mạng lại được phen dậy sóng với video xếp các miếng snack Pringles thành vòng tròn siêu vững, thách thức cả lực hấp dẫn.

Pringles - Chặng đường không toàn màu hồng

Pringles Mind Popping
Pringles Mind Popping

Pringles cũng gặp phải vài scandal trên thị trường. Lần đầu tiên vào năm 1975, các đối thủ cạnh tranh cho rằng vì Pringles không hoàn toàn làm từ khoai tây nên không được gọi là "chips". Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) đã ra phán quyết khiến Pringles buộc phải đổi tên gọi sản phẩm thành "crisps" (khoai tây giòn) cho chính xác.

Vào năm 2008, sự việc tương tự lại xảy ra ở London. Tòa án London cũng cho rằng Pringles không thực sự là "crisps". Nhưng lần này, Procter & Gamble đã chiến đấu thành công và giành chiến thắng, bảo vệ danh dự cho thương hiệu của mình.

Thương vụ đưa Pringles về nhà Kellogg's

Logo Pringles 2020 - hiện nay
Logo Pringles 2020 - hiện nay

Năm 2011, Proctor & Gamble đã chào bán Pringles cho Diamond Foods (California) với giá 2,35 tỷ đô la. Thương vụ này có thể giúp Diamond Foods tăng gấp 3 lần. Tuy nhiên, cái duyên không đến, thương vụ không thành công và Diamond Foods đành ngậm ngùi nhìn cơ hội vàng trôi qua.

Thế chỗ Diamond Foods, Kellogg's đã ra giá 2,695 tỷ đô la để rước Pringles về nhà vào năm 2012. Đây là một nước cờ trong chiến lược mở rộng thị trường quốc tế của Kellogg's. Nhờ thương vụ này, Kellogg's đã trở thành ông lớn thứ 2 trong ngành snack trên toàn cầu.

Hiện nay, Pringles sở hữu 5 nhà máy sản xuất trên toàn thế giới, vươn xa tầm quốc tế. Các nhà máy này đặt tại Tennessee (Mỹ), Bỉ, Malaysia, Ba Lan và Trung Quốc.

Pringles – đơn giản để không lẫn lộn với các đối thủ

Cái tên Pringles ra đời như thế nào? Theo một giai thoại thì đội ngũ marketing của Pringles đã lật đặt tên thương hiệu bằng các tìm kiếm “Những Trang Vàng”. Họ tìm thấy một địa danh là Pringle Drive ở Ohio. Ông chủ cùng đội ngũ nhân viên đã phải lòng cái tên Pringles ngay từ cái nhìn đầu tiên, và đó chính là lý do thương hiệu này mang tên như hiện tại.

Trải qua bao thay đổi của logo Pringles, điều luôn giữ ấn tượng đối với khách hàng chính đến cảm giác vui vẻ và thích thú. Biểu tượng của thương hiệu - ông già Pringles - xuất hiện ngay từ logo đầu tiên và đồng hành cùng Pringles cho đến tận ngày nay. Nhưng ít ai biết rằng, đằng sau nụ cười ấy lại ẩn chứa một câu chuyện thú vị: ông già Pringles chỉ là một “ông già” làm bánh vui tính của họ.

Suốt nhiều thập kỷ, thương hiệu bánh snack khoai tây Pringles luôn dễ nhớ và không thể trộn lẫn với các đối thủ cạnh tranh hay các thương hiệu khác. Bây giờ ra siêu thị, bạn vẫn dễ dàng tìm thấy những hộp Pringles quen thuộc trên gian hàng của các siêu thị. Mặc dù thương hiệu và công thức chế biến huyền thoại này không thay đổi nhiều theo năm tháng, thì Pringles vẫn không ngừng phát triển. Yếu tố cốt lõi – luôn đảm bảo về chất lượng và an toàn của sản phẩm - là cách thương hiệu tập trung thu hút sự chú ý của người tiêu dùng bất kể họ thuộc thế hệ nào.

Mở đầu

Một ngày nắng đẹp trời, Vương Truyền Phúc (Wang Chuanfu) đậu chiếc Mercedes S-class mới của mình trước cửa trung tâm R&D của ông ta ở Thượng Hải. Ít phút sau, gã tập hợp những kỹ sư giỏi nhất của mình, quay về phía chiếc xe sang trọng và tuyên bố: "Được rồi, tháo nó ra thành từng mảnh!"

Không một ai trong số các kỹ sư mảy may tiến lên. Một người lí nhí: "Nhưng... nhưng đó là xe của anh mà?"  Người khác phụ họa: "Nó còn mới tinh nữa!"

Hiểu ra tình thế bế tắc mình tạo ra, Vương Truyền Phúc lấy chìa khóa xe trong túi. Xẹt một cái, gã ta rạch một đường dài ngoằng từ đầu đến đuôi xe, xé toạc lớp sơn bóng loáng. "Được rồi, giờ thì chẳng còn lý do gì để giữ nó nguyên xi nữa nhỉ?" Vương Truyền Phúc vứt chìa khóa lên nắp capo rồi quay lưng bỏ đi, để lại những kỹ sư há hốc mồm nhìn theo.

Du hành ngược thời gian – dự án “Xây dựng những giấc mơ”

Vương Truyền Phúc, sinh năm 1965, là một người đàn ông phi thường. Ông ta tuyên bố rằng cái tên viết tắt của công ty - BYD - có nghĩa là "Xây dựng những giấc mơ" (Build Your Dreams), và tự hào ghi toàn bộ cụm từ này trên hầu hết các mẫu xe của mình. Tuy nhiên, trong một cuộc phỏng vấn cách đây khá lâu, Vương Truyền Phúc lại nói rằng cụm từ này không có nghĩa cụ thể nào tại thời điểm đó. Sau đó, một phóng viên kể lại rằng Vương Truyền Phúc, với nụ cười bí ẩn, đã thú nhận với ông rằng cụm từ đó thực sự có nghĩa là "Mang tiền của bạn về túi hắn" (Bring Your Dollars).

Vương Truyền Phúc có bằng cử nhân hóa học và khoa học vật liệu, từng là nghiên cứu viên và giảng viên trợ lý tại Đại học Khoa học Công nghệ Bắc Kinh hồi đầu những năm 90. Lĩnh vực chuyên môn của ông ta là điện và pin, nhờ vậy mà nắm rất rõ về công nghệ sản xuất pin tại Trung Quốc. Nhìn thấy tiềm năng và tự tin khả nănglàm mọi thứ tốt hơn, Vương Truyền Phúc đã bắt tay với Lã Hướng Dương (Lu Xiangyang) – người không có gì ngoài tiền - cùng nhau lên đường tới Thâm Quyến thành lập công ty riêng. Tháng 2 năm 1995, BYD được đăng ký với tư cách là nhà sản xuất pin sạc.

Thâm Quyến thời điểm đó là một miền đất hứa của Trung Quốc. Ngày nay, gần 15 triệu người đang sống ở Thâm Quyến, cùng với 8 thành phố xung quanh, nơi đây trở thành cụm đô thị lớn thứ hai ở Trung Quốc. Thâm Quyến được mệnh danh là "Thung lũng Silicon của Trung Quốc" bởi vì ngoài BYD của Vương Chuanfu, các công ty như Huawei, Tencent và DJI (nhà sản xuất flycam) cũng bắt nguồn từ đây.

BYD phát triển mạnh mẽ trong môi trường năng động đó. Ngoài kiến thức chuyên môn, Vương Truyền Phúc còn rất nhạy bén về các cơ hội kinh doanh. Anh bắt đầu sản xuất pin sạc NiCd (nickel-cadmium). Để bắt tay vào sản xuất, BYD sử dụng một công thức mà họ sẽ lặp lại nhiều lần sau này: "sao chép ngược", "cải tiến" và "tự sản xuất".

BYD - Sao chép nhưng không chỉ là "copy"

Nhiều công ty Trung Quốc nổi tiếng với biệt tài "copy" sản phẩm phương Tây. BYD thời kỳ đầu cũng không ngoại lệ. Vương Truyền Phúc và đội ngũ của mình tháo tung những viên pin Sony hay Sanyo ra, nghiên cứu cách chúng hoạt động, rồi sản xuất ra một thứ tương tự mang thương hiệu BYD.

Nhưng điểm khác biệt của Vương Truyền Phúc so với nhiều đối thủ ở chỗ: ông ta không dừng lại ở việc sao chép đơn thuần. Ngay từ những ngày đầu, Vương Truyền Phúc đã nhận thấy tầm quan trọng của nghiên cứu và phát triển (R&D). Chính vì thế, BYD đã dành nhiều tiền bạc và thời gian cho mảng này.

BYD - Lấn sân sang ngành sản xuất xe hơi

Với nguồn nhân công giá rẻ dồi dào, Vương Truyền Phúc đã thuê cả nghìn công nhân và dồn sức tối ưu quy trình sản xuất thay vì mua máy móc đắt tiền để tự động hóa.  Chiến lược này hiệu quả bất ngờ, bởi đến năm 2002 khi BYD lên sàn chứng khoán Hong Kong, họ đã trở thành nhà sản xuất pin sạc hàng đầu tại Trung Quốc.

Lần chào bán cổ phiếu lần đầu (IPO) của BYD ban đầu là một thành công. Thế nhưng, niềm vui không kéo dài bao lâu vì đến tháng 1 năm 2003, giá cổ phiếu của BYD bất ngờ "bùm một phát" giảm mạnh. Cớ sự là gì? Thì ra Vương Truyền Phúc vừa mua lại một nhà sản xuất xe hơi mini ở Shaanxi.

Vương Truyền Phúc đang tìm kiếm lĩnh vực để mở rộng hoạt động kinh doanh và ngành xe hơi được ông ta chọn làm ứng viên sáng giá. Vương Truyền Phúc nhìn thấy thị trường ô tô Trung Quốc đang bùng nổ và đây là cơ hội vàng để mang kho pin sạc của mình ra sử dụng.

Một trong những nỗi lo của Vương Truyền Phúc khi gia nhập ngành sản xuất xe hơi là nguồn vốn và sự rủi ro. Tuy nhiên, vào năm 2003, cơ hội đã đến. Một tập đoàn công nghiệp khổng lồ muốn bán nhà máy sản xuất xe hơi đang thua lỗ của họ, trong khi chính quyền địa phương lại muốn duy trì nhà máy để đảm bảo việc làm. Nhờ vậy, Vương Truyền Phúc bất ngờ có thể trở thành nhà sản xuất xe hơi với cái giá bèo bọt. Vào tháng 1 năm 2003, Vương Truyền Phúc đã mua lại Qinchuan Automobile.

BYD - Không chỉ sao chép, họ cải tiến

Ngoài việc mua lại Qinchuan Auto (sau này được đổi tên thành BYD Automobile), Vương Truyền Phúc còn mua thêm một nhà máy sản xuất khuôn mẫu ở Bắc Kinh và thành lập một phòng R&D tại Thượng Hải.

Ông Vương xông pha vào thị trường xe hơi theo cách tương tự như cách ông đã thống trị thị trường pin. Mọi chuyện bắt đầu với "sao chép ngược" (Reverse engineering) - nghe thì có vẻ tiêu cực nhưng với BYD thì đây là chiến lược “sao chép + cải tiến”. Các kỹ sư BYD tháo tung mọi loại xe hơi ra, kể cả chiếc S-class sang trọng của ông chủ, để học cách lắp ráp và tạo ra những chiếc xe tốt nhất. Nhà máy sản xuất khuôn mẫu ở Bắc Kinh sau đó sẽ cấp tốc cung cấp tất cả các loại khuôn cho các bộ phận, giúp BYD tự chủ hoàn toàn.

Động cơ là một ví dụ điển hình. Những chiếc BYD đầu tiên được trang bị động cơ Mitsubishi do Trung Quốc sản xuất, nhưng chỉ trong vài năm, tất cả các xe đều sử dụng động cơ BYD. Những động cơ này nhìn "hao hao" giống Mitsubishi nhưng không hoàn toàn giống. Các kỹ sư không chỉ sao chép; họ cải tiến.

BYD - Thành công nhờ công thức quen thuộc

Đến năm 2005, mẫu xe hơi đầu tiên của họ tư phát triển ra đời, đó là chiếc F3. Chiếc xe này có bề ngoài khá giống với Toyota Corolla đương thời nhưng giá lại rẻ hơn nhiều. Đó chính là phân khúc mà BYD đang nhắm tới: rẻ hơn các mẫu xe nước ngoài, nhưng chất lượng lại tốt hơn nhiều so với tất cả các đối thủ khác tại Trung Quốc.

Với đà phát triển nhanh chóng, BYD đã tung ra hàng loạt các mẫu xe hoàn chỉnh từ năm 2006 trở đi. Gần như tất cả các dòng xe đầu tiên đều có những điểm tương đồng với Toyota thời đó. BYD sản xuất nhiều phiên bản, nhắm mục tiêu cụ thể đến một khu vực hoặc nhóm khách hàng nhất định. Tất cả các mẫu xe này đều được trang bị động cơ xăng.

Mục tiêu của Vương Truyền Phúc là sản xuất xe điện, và mẫu xe đầu tiên ra đời vào năm 2008 - F3DM thuộc dòng xe hơi hybrid.

Đến năm 2010, mẫu xe hơi điện đầu tiên của BYD - E6 - ra mắt. Ban đầu được dành làm xe taxi (thậm chí còn xuất khẩu sang châu Âu với số lượng nhỏ) nhưng sau đó được sản xuất và bán rộng rãi trên thị trường nội địa vào khoảng một năm sau. Sự phát triển của BYD được hỗ trợ bởi các chính sách của chính phủ nhằm thúc đẩy phát triển xe hơi sử dụng năng lượng sạch. BYD được hưởng các khoản trợ cấp dành cho những chiếc xe ít khí thải hoặc không khí thải này.

Đến năm 2019, BYD cuối cùng đã bán được nhiều xe điện hơn các mẫu xe xăng truyền thống.

BYD - Những bước chuyển mạnh mẽ nâng tầm giao thông xanh

Qinchuan được đổi tên thành BYD Automobile. BYD giờ đây không còn giới hạn mình ở mảng xe du lịch nữa. Xe buýt điện và xe buýt công cộng của BYD đang được sử dụng tại nhiều sân bay và thành phố trên toàn thế giới.

Không chỉ là ông lớn trong lĩnh vực xe buýt điện, BYD còn sản xuất đủ các loại xe tải điện. Từ xe rác, xe phân phối hàng hóa, đến đầu kéo chuyên dụng cho cảng biển và sân bay, thậm chí cả những xe ben khổng lồ 60 tấn được sử dụng trong khai thác mỏ. Và trong vài năm gần đây, công ty cũng đang sản xuất cả tàu điện, chẳng hạn như những đoàn tàu đang chạy trên mạng lưới công cộng ở quê nhà Thâm Quyến.

BYD - Vươn tầm nhờ nguồn vốn và các đối tác quốc tế

Sự phát triển bùng nổ của BYD ban đầu chủ yếu là ở thị trường nội địa. Nhưng tên tuổi của họ được biết đến rộng rãi hơn trên toàn thế giới khi Berkshire-Hathaway, quỹ đầu tư nổi tiếng của Warren Buffett, đầu tư một lượng lớn cổ phiếu của BYD - khoảng 10% cổ phần - vào năm 2008.

Một phần nhờ cú hích này, BYD cũng lọt vào tầm ngắm của Daimler. Mặc dù người Đức đã có mối quan hệ lâu dài với BAIC, nhưng vào năm 2011, họ cũng thành lập một liên doanh với BYD. Sản phẩm đầu tiên của liên doanh này là một chiếc MPV điện. Chiếc xe được bán trên thị trường dưới thương hiệu Denza.

BYD là một trong những hãng xe đầu tiên thể hiện tầm nhìn đi trước đối thủ của mình. Họ đã dốc hầu bao để tuyển mộ giám đốc thiết kế nổi tiếng -Wolfgang Egger, người từng xây dựng sự nghiệp tại Alfa Romeo và Seat - vào năm 2016. Các mẫu xe thế hệ thứ hai của BYD, bắt đầu với chiếc Qin vào năm 2013, đã có diện mạo riêng biệt hơn hẳn. BYD đặt tên cho tất cả các mẫu xe thế hệ thứ hai theo tên các triều đại Trung Quốc trước đây. Các cái tên quen thuộc khác có thể kể đến như Qin (Tần), Tang (Đường), Yuan (Nguyên) và Song(Tống).

BYD - Linh hoạt, dám nghĩ, dám làm để vượt qua cơn khủng hoảng

Trải qua nhiều năm, BYD đã biến mình thành một công ty "linh hoạt và nhanh nhạy" trong những giai đoạn khó khăn. Vào đầu đại dịch Covid, nhiều nhà sản xuất xe hơi chuyển hướng sang sản xuất khẩu trang hoặc nước rửa tay khô khi dây chuyền sản xuất chính bị đình trệ. BYD cũng sản xuất khẩu trang, nhưng đồng thời, họ còn phát triển và chế tạo cả máy may khẩu trang. Vào cuối tháng 3 năm 2020, họ đã sản xuất được một trăm nghìn khẩu trang và nhiều máy may khẩu trang mỗi ngày.

Sự linh hoạt đó cũng thể hiện trong việc phát triển xe. Các thương hiệu Nhật Bản đã vận động hành lang để nới lỏng quy định đối với xe hybrid tại thị trường Trung Quốc, đạt được mục đích, và ngay khi các quy định mới được áp dụng, BYD đã giới thiệu hệ thống hybrid DM-I với động cơ đốt trong hiệu quả nhất thế giới.

Còn về mảng pin, họ đã phản ứng với các lo ngại về an toàn bằng 'Blade Battery'. Đây là những cell hình lăng trụ dài, mỏng có thể lắp ráp thành một khối mà không cần mô-đun. BYD là hãng đầu tiên vượt qua bài kiểm tra 'xâm nhập pin' mới của Trung Quốc với kết quả xuất sắc. Loại cell này sử dụng hóa học LFP, do đó chúng tương đối rẻ và ít bị hạn chế bởi tài nguyên.

Chiến lược sản xuất nhiều bộ phận nội bộ của BYD đã mang lại lợi nhuận kếch sù trong cuộc khủng hoảng chip bán dẫn hiện nay. BYD ít bị ảnh hưởng hơn hầu hết các hãng khác vì họ tự sản xuất một lượng lớn chip của mình. Để kiếm tiền từ việc sản xuất linh kiện, BYD đã tập trung các nhà máy phụ tùng của mình thành một công ty con mới và đặt tên là Fudi – và họ cũng đã IPO thành công tại sàn Hong Kong

Thương hiệu BYD – Tiên phong trong cuộc cách mạng giao thông xanh

Nhìn lại hành trình ấn tượng của BYD và hướng đến tương lai đầy hứa hẹn, một điều chắc chắn: BYD chính là một trong những thương hiệu đi tiên phong trong cuộc cách mạng giao thông xanh toàn cầu. Với đội quân xe điện đa dạng, công nghệ pin tiên tiến và tinh thần đổi mới không ngừng, BYD đang từng bước "phủ xanh" lên thế giới.

Càng ngày, nhu cầu xe điện tăng cao, các vấn đề môi trường lại nóng bỏng hơn bao giờ hết. BYD không chỉ dừng lại ở việc sản xuất xe hơi, mà còn đang kiến tạo một di sản bền vững cho thế hệ mai sau. Trên hành trình tiến đến tương lai trong lành, xanh mát và bền vững hơn, hãy nhớ rằng BYD không chỉ “xây dựng những giấc mơ”, mà còn đang tạo ra một ngày mai tươi sáng hơn.

Từ ý tưởng ban đầu là viên kẹo dành cho những binh sĩ Mỹ, M&M's đã trở thành những "ký ức ngọt ngào" không thể thiếu trong lòng biết bao thế hệ.

Hơn cả một viên kẹo, M&M's còn là biểu tượng của sự sáng tạo, đổi mới và kết nối. M&M's không ngừng biến hóa với vô vàn các sản phẩm phiên bản giới hạn, thay đổi hương vị và mẫu mã cho từng thị trường riêng.

Hãy cùng khám phá hành trình chinh phục thế giới của những viên kẹo nhỏ M&M's.

M&M's: Ra đời từ ý tưởng trong quân đội

Chào đời vào năm 1941 tại Mỹ, M&M's là đứa con tinh thần của ông Forrest Mars Sr. Ý tưởng về M&M's nảy ra trong đầu ông sau khi chứng kiến sự thành công của công ty do cha mình điều hành trong thời kỳ Nội chiến Tây Ban Nha những năm 1930. Trong cuộc chiến này, ông Forrest đã thấy những người lính ăn Smarties - một loại kẹo chocolate dạng viên tròn có vỏ cứng bên ngoài.

Ưu điểm của loại kẹo này là không bị tan chảy, rất tiện lợi mang theo khi hành quân. Nhờ nguồn cảm hứng đó, ông Forrest đã quyết định phát triển một loại kẹo tương tự ngay thời điểm nước Mỹ tham gia Thế chiến thứ II.

Lúc bấy giờ, M&M's được sản xuất độc quyền và phân phối cho quân đội Mỹ. Giống như loại kẹo đã truyền cảm hứng cho mình, M&M's cũng không bị tan chảy trong điều kiện thời tiết nóng. Sau chiến tranh, M&M's được sản xuất đại trà để phục vụ người tiêu dùng và từ đó, thương hiệu kẹo ngọt này bùng nổ trên toàn thế giới!

1940-1970: M&M's phát triển dây chuyền sản xuất

Tháng 3 năm 1941, Forrest Mars Sr. chính thức được cấp bản quyền cho quy trình sản xuất kẹo, với tên gọi M&M's Ltd. Dây chuyền sản xuất đầu tiên của M&M's đặt tại Newark, New Jersey.

Cái tên "M&M's" thì ẩn chứa một bí mật thú vị: 2 chữ "M" này đại diện cho Forrest và Bruce Murrie. Bruce là con trai của William F.R. Murrie, chủ tịch của Hershey Chocolate. Bruce nắm giữ 20% cổ phần của M&M's.

Hershey Chocolate là doanh nghiệp hàng đầu trong ngành chocolate, nhờ đó M&M's có được nguồn vốn dồi dào, nguyên liệu chất lượng cùng các kỹ sư và máy móc hiện đại bậc nhất.

Những viên M&M's đầu tiên có biểu tượng chữ "M" màu đen, sau này thay đổi thành màu trắng như thương hiệu hiện tại. Lúc đầu, kẹo M&M's chỉ có một loại duy nhất, nhưng đến năm 1954, M&M's ra mắt kẹo vị đậu phộng với màu đặc trưng nâu vàng. Đến năm 1960, kẹo vị đậu phộng của M&M's thêm các màu sắc rực rỡ như vàng, xanh lá và đỏ để chiều lòng người tiêu dùng.

Từ những viên kẹo sản xuất độc quyền cho quân đội Mỹ, M&M's dần gây sốt trên thị trường và được nhiều người yêu thích. Họ phải nâng cấp dây chuyền sản xuất và chuyển đến một nhà máy hoành tráng hơn ở New Jersey. Xưởng sản xuất này hoạt động đến năm 1958 thì chuyển đến Hackettstown - một nơi rộng rãi hơn để đáp ứng nhu cầu.

Đến năm 1978, M&M's xây dựng thêm một phân xưởng mới tại Cleveland, Tennessee để phục vụ nhu cầu sản xuất ngày càng tăng cao

1980-1990: M&M's đa dạng hóa hương vị và màu sắc

Những năm 80 đánh dấu bước ngoặt của M&M's với chiến dịch marketing rầm rộ mang tên "M&M's Royals". Đây là dòng kẹo  chocolate hương bạc hà, thay vì dùng biểu tượng "M" thông thường, chúng được in hình vương miện và khoác trên mình hai màu nâu và xanh lá nhạt.

Thương hiệu M&M's cũng không ngừng bành trướng các sản phẩm trong thập kỷ này. Năm 1988, họ sản xuất lại những viên kẹo nhân hạnh nhân - loại kẹo từng được ra mắt trước đó nhưng bị thu hồi vào năm 1960. Loại kẹo này này chỉ được bán độc quyền vào các dịp lễ Phục sinh và Giáng sinh. Sự trở lại của kẹo vị nhân hạnh nhân khởi đầu chiến dịch giới thiệu các hương vị theo chủ đề lễ hội của M&M's vào năm 1986.

Dòng sản phẩm này có tên gọi "Holidays Chocolate". Vào Giáng sinh, các viên kẹo sẽ được in hình ngọn nến, cái chuông hoặc cây thông Noel trên lớp vỏ đỏ-xanh lá thay cho chữ "M" truyền thống. Còn đối với lễ Phục sinh, viên kẹo sẽ có hình thỏ, trứng hoặc gà con trên nền vỏ màu xanh nhạt thay vì biểu tượng "M" thương hiệu.

1990-1999: M&M's biến hóa để chiều lòng khách hàng

Vào những năm 1990, M&M's đã nắm bắt yêu cầu của khách hàng - họ muốn nhiều hương vị hơn nữa!

Năm 1991, công ty giới thiệu sản phẩm nhân bơ đậu phộng. Ngoài nhân bơ đậu phộng, màu sắc của chúng vẫn giống với phiên bản truyền thống. Những thay đổi khác bao gồm thay thế M&M's màu nâu vàng thành màu xanh lam vào năm 1995, giới thiệu M&M's Minis – được đóng gói trong ống nhựa thay vì túi thông thường vào năm 1996, và cuối cùng là M&M's Crispy ra mắt vào năm 1999 với phần nhân giòn rụm ở giữa.

2000-2010: M&M's  bùng nổ thêm nhiều hương vị mới

Những năm 2000 đánh dấu giai đoạn M&M's bắt đầu sáng tạo thêm những hương vị mới, vượt ra ngoài những vị truyền thống quen thuộc. Năm 2001, kẹo M&M's nhân sữa đặc (có nguồn gốc từ Mỹ Latinh) ra mắt tại các thị trường có nhiều người gốc Tây Ban Nha sinh sống như San Diego, Los Angeles, San Antonio...

Đây là lần đầu tiên M&M's sản xuất riêng những viên kẹo dựa trên đặc điểm dân cư, nhưng tiếc là hương vị này không được yêu thích rộng rãi, nên đến đầu năm 2003, các khu vực này đã ngừng bán.

2010 đến nay: M&M's không chỉ có kẹo

Từ năm 2010, M&M's tiếp tục thử nghiệm các hương vị mới nhằm đáp ứng nhu cầu của  khách hàng. Năm 2010, M&M's Pretzel ra đời với nhân bánh mặn, giòn tan. Năm 2013, chứng kiến sự trở lại của kẹo chocolate dạng thanh M&M's, đồng thời kẹo bơ đậu phộng cũng có thêm phiên bản mini.

Năm 2015, M&M's Crispy quay lại sân nhà của mình tại Mỹ. Chưa dừng lại ở đó, năm 2017, M&M's Caramel được giới thiệu, đánh dấu sự gia nhập của một thành viên mới vào đế chế của những viên kẹo ngọt ngào M&M's.

Và M&M's không chỉ dừng lại ở những viên kẹo! Năm 2016, bánh cookie M&M's ra mắt, tiếp theo là bơ bánh mì hương hazelnut vào năm 2019, và cuối cùng là bánh fudge M&M's vào năm 2020.

Hành trình M&M's: Không phải lúc nào cũng có "vị ngọt"

Không phải lúc nào cũng “bách chiến bách thắng”, M&M's cũng có lúc cho ra đời những sản phẩm không được lòng người tiêu dùng, khiến doanh số thụt giảm thảm hại. Tuy nhiên họ biết cách lắng nghe ý kiến và thay đổi, và cho tiếp tục cho ra đời những sản phẩm phù hợp.

Giống như hầu hết các thương hiệu khác, M&M's cũng không tránh khỏi những scandal. Ví dụ như vào năm 1976, M&M's phải nhanh chóng thu hồi những viên kẹo màu đỏ, thay thế thành màu cam, vì hai chất tạo màu đỏ bị nghi là có khả năng gây ung thư, khiến khách hàng tẩy chay những viên kẹo đỏ. May mắn là đến năm 1987, nghi ngờ đã được giải quyết và những viên kẹo M&M's đỏ được tái xuất.

Dù gặp phải khó khăn gì, M&M's vẫn luôn tiến về phía trước và biết lắng nghe phản hồi của người tiêu dùng.

Logo M&M's: Biểu tượng gợi nhớ hai người sáng lập

Chắc hẳn bạn cũng đoán ra rồi, hai chữ "M" lồng vào nhau tượng trưng cho hai ông chủ đứng sau sự thành công của M&M's: Forrest Mars Sr. và Bruce Murrie.

1941-1954: Logo M&M's phiên bản đầu tiên

Logo M&M's 1941-1954
Logo M&M's 1941-1954

Ra mắt năm 1941 và được sử dụng đến tận năm 1954, logo M&M's thời ấy "gọn gàng" với toàn bộ chữ cái viết thường và chỉ có một màu. Hai chữ "M" và dấu "&" được thiết kế to hơn chữ "S" nhé!

1954-1971: Logo M&M's dùng phong cách vẽ tay

Logo M&M's 1954-1971
Logo M&M's 1954-1971

Năm 1954, logo M&M's thay áo với phong cách vẽ tay, các chữ cái không đều nhau, có màu vàng nổi bật trên nền đen. Đây được cho là phiên bản bắt mắt nhất từ trước đến nay.

1971-1988: Logo M&M's mạnh mẽ với tông nâu

Logo M&M's 1971-1988
Logo M&M's 1971-1988

Ở phiên bản này, logo M&M's mạnh mẽ hơn với tông màu chủ đạo là nâu và các chữ cái được viết hoa. Logo này được ghi dấu trên các sản phẩm của  M&M's tận 17 năm.

1988-2001: Logo M&M's nâng cấp sắc nâu

Logo M&M's 1988-2001
Logo M&M's 1988-2001

Để hòa hợp với tông màu nâu đậm chủ đạo của M&M's, logo lại được thay đổi một chút. Lần này, nét chữ được in đậm và sạch sẽ hơn, sử dụng sắc nâu tối hơn.

2001-2004: Logo M&M's màu sắc tươi tắn

Logo M&M's 2001-2004
Logo M&M's 2001-2004

Bước sang năm 2001, logo M&M's chuyển sang sắc nâu tươi sáng sủa hơn. Bên cạnh đó, logo còn được viền thêm một đường nâu và trắng. Chi tiết này giúp logo có chiều sâu và nổi bật hơn hẳn so với các đối thủ.

2004-2018: Logo M&M's chuyển sang phong cách hiện đại

Logo M&M's 2004-2018
Logo M&M's 2004-2018

Năm 2004, M&M's quyết định thay đổi phong cách truyền thống với một diện mạo hoàn toàn mới. Lần này, logo được chếch sang một bên trên nền trắng tinh, đi kèm với đó là một đường viền đen tạo hiệu ứng đổ bóng. Sự thay đổi phá cách này giúp logo trông hiện đại hơn hẳn, nâng cấp cho thương hiệu kẹo M&M's.

2019-nay: Logo M&M's quay về truyền thống

Logo M&M's 2019-nay
Logo M&M's 2019-nay

Đến năm 2019, logo M&M's quay về dạng phẳng, hai chiều. Màu nâu trầm hoài cổ được chọn làm màu sắc chính, nhưng phong cách chữ chéo thì vẫn được giữ lại. Dấu "&" cũng được đặt cao hơn so với các chữ cái khác. Đây chính là phiên bản logo thứ bảy và cũng là logo của M&M's hiện nay.

M&M's là ông vua kẹo ngọt của thế giới

M&M's không chỉ là ông vua kẹo ngọt ở Mỹ mà còn làm mưa làm gió trên toàn thế giới. Hiện nay, một nửa sản lượng M&M's được sản xuất tại nhà máy Hackettstown, nửa còn lại được cho ra đời ở Tennessee. Sản phẩm của M&M's có mặt ở hơn 100 quốc gia với 17 màu sắc khác nhau cho các viên kẹo của mình.

Bí quyết thành công của M&M's chính là sự biến hóa không ngừng nghỉ với các phiên bản giới hạn, ra mắt nhiều sản phẩm với hương vị độc lạ và cả kích thước to nhỏ. Không dừng lại ở hương vị, M&M's còn biết cách tạo điểm nhấn với màu sắc cho từng dịp đặc biệt.

Đặc biệt, M&M's không chỉ là món quà yêu thích của các bạn nhỏ mà còn được lòng cả người lớn. Bạn có thể biến những viên kẹo M&M's bình thường thành món quà độc đáo, ý nghĩa bằng cách in lên đó những thông điệp yêu thương để quà cưới, quà sinh nhật, quà kỷ niệm hay bất cứ dịp đặc biệt nào.

Thương hiệu M&Ms – thành công từ việc lắng nghe và thay đổi

Bí quyết thành công của M&M's không nằm ở sự đột phá về hương vị - cơ bản vẫn là kẹo nhân chocolate bọc đường. Điều làm nên sức hút của M&M's chính là niềm tin của khách hàng vào thương hiệu. Mỗi viên kẹo M&M's như một lời hứa về chất lượng, sự an toàn và những trải nghiệm tuyệt vời.

M&M's luôn biết cách lắng nghe khách hàng và thay đổi để phù hợp với thị hiếu. Họ liên tục tung ra những phiên bản mới mẻ, độc đáo, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.

Nhờ chiến lược thương hiệu thông minh và sự thấu hiểu khách hàng, M&M's đã xây dựng được vị thế vững chắc trong lòng người tiêu dùng, trở thành biểu tượng kẹo ngọt "quốc dân" được yêu thích trên toàn thế giới.

Các võ sĩ tài giỏi luôn có cả trăm chiêu thức chiến đấu để giành chiến thắng. Thậm chí, họ còn biết học hỏi và cải tiến các kỹ thuật từ nhiều môn võ khác nhau.

Từ thời nhà Hán, quân đội Trung Hoa sáng tạo ra một môn võ chiến đấu độc đáo gọi là Shuai Jiao - Môn Võ Vật Cổ Truyền của Trung Hoa. Shuai Jiao pha trộn nhuần nhuyễn các đòn thế từ vật, kung-fu và nhiều môn võ khác.

Thời đó, binh lính Trung Hoa là những cao thủ trong những trận đấu tay đôi thực chiến trên chiến trường. Họ có thể sử dụng cả đòn đánh cận, vật đối thủ và các kỹ thuật khóa để chiến đấu áp sát. Việc kết hợp nhiều chiêu thức đa dạng đã giúp quân đội Trung Hoa có được nhiều chiến thắng vẻ vang trong các trận chiến

Câu chuyện từ hơn 2200 năm trước này chứng minh rằng việc kết hợp các môn võ khác nhau gần như là bản năng của các võ sĩ. Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể thấy sự phát triển của võ thuật từ thời Olympic cổ đại, đến các môn thể thao đối kháng ở thế kỷ 19, cho đến các giải đấu MMA (Mixed Martial Arts - Võ thuật tổng hợp) sôi động ngày nay. Những giải đấu như UFC và ONE Championship cũng là minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của MMA thành một môn thể thao toàn cầu.

Võ thuật tổng hợp thời xưa tại đấu trường Olympic

Pankration là một môn thể thao đối kháng đỉnh cao của thời kỳ Olympic cổ đại. Đây là cuộc đấu không có luật lệ và “đẫm máu”, lý giải cho sự nổi tiếng của các trận đấu và sau này bị cấm thi đấu. Người La Mã cổ đại sau đó cũng đem vào một môn thi đấu - biến thể của Pankration - để giải trí trong các đấu trường Colosseum, và cũng bị loại bỏ sau 1 thời gian.

Trước khi trở thành môn thể thao, Pankration đơn giản chỉ là phương pháp huấn luyện chiến đấu trong quân đội Hy Lạp. Binh lính Hy Lạp được đào tạo theo một môn võ kết hợp vật, quyền anh và các kỹ thuật chiến đấu đường phố để phát huy hiệu quả trên chiến trường.

Trải qua nhiều thế kỷ, châu Âu và châu Á đã tạo ra những môn võ thuật vay mượn các kỹ thuật từ các môn phái khác và phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay. Thế giới ngày càng kết nối đã tạo điều kiện cho các môn võ từ các nền văn hóa khác nhau giao lưu, học hỏi.

Bây giờ, chúng ta sẽ khám phá lịch sử hình thành và phát triển của các môn võ thuật tại các quốc gia và các lục địa.

Võ thuật tổng hợp tại châu Âu & Mỹ ở thế kỷ 19

Savate là một môn võ chiến đấu của nước Pháp, có nhiều nét tương đồng với Kickboxing. Năm 1852, các võ sĩ Savate tổ chức hẳn một giải đấu và thách đấu các võ sĩ nước Anh. Giải đấu này là màn so tài giữa các võ sĩ quyền anh (boxing) người Anh và các võ sĩ savate người Pháp.

Cùng thời điểm đó, thế giới phương Tây cũng rộ lên các trận đấu pha trộn giữa vật và quyền anh. Một trong những trận đấu đáng nhớ nhất diễn ra ở Mỹ vào năm 1887- là màn so tài giữa nhà vô địch quyền anh hạng nặng với nhà vô địch đô vật đương thời. Kết quả là võ sĩ đô vật đã giành chiến thắng - một mô típ quen thuộc cho đến tận ngày nay!

Võ thuật tổng hợp tại Châu Á ở thế kỷ 19

Cuối thế kỷ 19 cũng chứng kiến những trận đấu kết hợp giữa phong cách chiến đấu châu Âu và châu Á. Sự giao thoa văn hóa và võ thuật này chính là nền tảng quan trọng cho MMA hiện đại.

Jiu-jitsu có khá nhiều điểm tương đồng với Shuai Jiao của Trung Hoa và Pankration của Hy Lạp. Đây là một môn võ thực chiến của Nhật Bản, được các Samurai sử dụng trên chiến trường.

Các kỹ thuật vật, hạ gục đối thủ (takedown) và khóa siết (submission) là những đặc điểm nổi bật của môn võ chiến đấu của Samurai.

Jiu-jitsu đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của MMA như chúng ta biết ngày nay. Và người có công lớn cho sự nổi trội của Jiu-jitsu trong MMA chính là một võ sư Nhật Bản tên Jigoro Kano.

Jigoro Kano là người sáng tạo ra Judo. Ông là một võ sĩ say mê môn Jiu-jitsu và văn hóa Samurai. Jigoro Kano cũng là bạn thân của Gichin Funakoshi - người được mệnh danh là cha đẻ của Karate Shotokan hiện đại.

Kano và Funakoshi đã cùng nhau kết hợp các kỹ thuật vật của Jiu-jitsu với các kỹ thuật takedown và tấn công (striking) của Karate để cho ra đời những đòn Judo đa dạng và hiệu quả

Ngày nay, những kỹ thuật Judo và Jiu-jitsu thường sẽ được các võ sĩ MMA sử dụng vào các đòn ném hông (hip-throw) hay khóa siết (submission) khiến đối thủ đầu hàng.

Judo và Jiu-Jitsu du hành đến Brazil

Cuối thế kỷ 19 chứng kiến sự ra đời của Judo - môn võ vay mượn nhiều kỹ thuật từ Karate và Jiu-jitsu. Sang đầu thế kỷ 20, cả Judo và Jiu-jitsu trở nên phổ biến trên các sàn chiến đấu sôi động của Brazil.

Câu chuyện bắt đầu khi một võ sư Judo người Nhật Bản đến Brazil để dựng nghiệp, với sự giúp đỡ của một người dân địa phương. Để bày tỏ lòng biết ơn, võ sư Judo này đã dạy  Jiu-jitsu cho những người con trai của người bạn này.

Đây không phải là điều phổ biến, vì trong văn hóa Nhật Bản, rất hiếm khi các võ sỹ chia sẻ kỹ năng võ với người ngoài.

Nhờ vậy, hai anh em Carlos và Helio Gracie may mắn được học Jiu-jitsu từ một võ sư Judo tên Mitsuyo Maeda.

Brazilian Jiu-Jitsu ra đời và phát triển

Năm 1925, hai anh em nhà Gracie mở một phòng tập Judo tại thủ đô Brazil. Song song với việc dạy Judo, họ cũng tích tập luyện và phổ biến các kỹ thuật Jiu-jitsu độc đáo của mình. Biến thể Jiu-jitsu của họ gặt hái được thành công vang dội nhờ tính hiệu quả. Đây chính là môn võ thuật mà chúng ta biết đến ngày nay với cái tên BJJ - Brazilian Jiu-jitsu.

Helio Gracie đã hoàn thiện BJJ để tạo ra một phong cách chiến đấu cho phép võ sĩ giành chiến thắng trước đối thủ lớn hơn mình rất nhiều.

Anh em nhà Gracie làm nóng tên tuổi BJJ bằng việc đưa ra những trận thách đấu. Các võ sĩ từ khắp nơi trên thế giới được mời đến phòng tập. Họ sẽ đến Rio để thử thách kỹ năng chiến đấu và chiến thuật của mình với Brazilian Jiu-jitsu. Rất nhiều võ sĩ đã chấp nhận thử thách, và cũng rất nhiều người đã phải chào thua trước sức mạnh của BJJ.

Ở Brazil, BJJ dần nổi tiếng là một môn thể thao phổ biến và quyết liệt vì các trận đấu của Gracie diễn ra với rất ít luật lệ. Phải mất nhiều năm sau đó, một bộ luật thi đấu MMA đề cao tính an toàn mới được thống nhất và áp dụng.

Võ thuật tổng hợp MMA lên ngôi

Gia đình Gracie chính là cầu nối giữa môn thể thao MMA với văn hóa đại chúng trên thế giới. Các thành viên của gia đình Gracie đã chuyển đến Mỹ, nơi họ giảng dạy và quảng bá Brazilian Jiu-jitsu.

Cùng thời điểm đó, các võ sĩ và võ sư từ khắp các châu lục tiếp tục thi đấu với các đối thủ từ các môn võ khác nhau. Ví dụ điển hình, huyền thoại Muhammad Ali từng thượng đài với đô vật Nhật Bản Antonio Inoki. Luật thi đấu cho trận đấu này cũng không thật sự rõ ràng, thậm chí còn thay đổi chỉ vài ngày trước khi thi đấu.

Mãi cho đến vài năm sau, một bộ luật thống nhất mới ra đời, giúp các trận MMA an toàn và được chấp nhận rộng rãi hơn.

MMA bùng nổ và những cái tên vàng trong lịch sử

Những ngôi sao điện ảnh như Bruce Lee (Lý Tiểu Long) là người đưa võ thuật đến gần hơn với công chúng. Thành viên của gia đình Gracie - Royce Gracie lại được biết đến như người đặt nền móng cho sự hình thành của MMA.

Năm 1993, Royce Gracie đã vô địch ba giải đấu UFC đầu tiên (giải thứ nhất, thứ hai và thứ tư) bằng cách hạ gục những đối thủ to lớn hơn mình rất nhiều. Thành tích ấn tượng này của Gracie đã củng cố vị thế của BJJ trong làng võ thuật tổng hợp. Cho đến ngày nay, các võ sĩ MMA vẫn tiếp tục học hỏi và áp dụng các kỹ thuật hữu ích từ biến thể Jiu-jitsu của Gracie.

Lượng khán giả theo dõi các trận đấu tăng lên đến hàng trăm nghìn người cho mỗi sự kiện được truyền hình trực tiếp. Tuy nhiên, sự nổi tiếng gần như ngay lập tức này cũng đi kèm với những tranh cãi vì tính chất quyết liệt và “đẫm máu” chưa từng có trên truyền hình.

Cuối cùng, Bộ luật thi đấu tổng hợp MMA ra đời và được áp dụng tại hầu hết các quốc gia và tổ chức giám sát các giải đấu MMA.

Luật chơi của MMA: Sự hỗn chiến nhưng đầy chuyên nghiệp

MMA từ xưa đến nay vốn nổi tiếng là môn võ thuật ít áp dụng luật lệ - nhằm đề cao tính “thật” chiến nhất có thể. Thật ra, chỉ có hai luật bất di bất dịch tồn tại qua nhiều thời đại: không được “cấu mắt" và không được “cắn”.

Ngày nay, chúng ta đã có những Luật thi đấu MMA để đảm bảo an toàn cho các võ sĩ. Đây là một số luật của các giải đấu lớn như ONE Championship:

  • Không mang giày và mũ bảo hiểm.
  • Tuyệt đối cấm: Cắn, cấu mắt, giật tóc, tấn công vào vùng háng.
  • Tấn công vào vùng cấm: Cổ họng và gáy.
  • Không khuyến khích các võ sĩ bám vào lồng sắt để chống lại việc bị takedown

Ngoài ra, các trận đấu ngày nay cũng có giới hạn thời gian, khác với thời kỳ đầu của MMA. Các trận đấu không tranh chức vô địch thường diễn ra 3 hiệp, mỗi hiệp 5 phút. Còn các trận tranh chức vô địch thường có 5 hiệp, mỗi hiệp cũng 5 phút.

Nếu hết giờ mà chưa phân định thắng thua, một hội đồng gồm 3 trọng tài sẽ quyết định người chiến thắng dựa trên các tiêu chí trong luật thi đấu.

MMA - Đấu trường võ thuật bùng nổ trên toàn thế giới!

MMA không còn là những màn thách đấu của các cá nhân mà dần trở thành 1 môn thế thao đề cao tính chiến đấu, chiến thuật và tinh thần thượng võ. Các tổ chức uy tín như ONE ChampionshipUltimate Fighting Championship (UFC) đang phủ sóng các giải đấu MMA ở khắp mọi nơi trên thế giới. Họ cũng là những tổ chức chịu trách nhiệm giám sát việc thi đấu, đảm bảo tính công bằng cho cả các trận tranh đai lẫn không tranh đai.

Điều này cho thấy tương lai của MMA sẽ là sự phát triển toàn cầu, với nhiều sáng tạo mới mẻ và đương nhiên, an toàn cho các võ sĩ luôn được đặt lên hàng đầu. Sân khấu MMA ngày càng rộng mở, hứa hẹn sẽ mang đến những trận đấu mãn nhãn cho người hâm mộ.

Louis Vuitton - cái tên nghe "sang chảnh" phải biết, nhưng ít ai biết ông vua hàng hiệu này bắt đầu từ xưởng làm sản phẩm cho các tín đồ du lịch! Được thành lập vào năm 1854 tại Pháp bởi chính ông Louis Vuitton tài hoa, thương hiệu đã trải qua chặng đường từ việc làm vali “ăn chắc  mặc bền” thành một ông vua thời trang xa xỉ.

Trải qua hơn 250 năm, Louis Vuitton không chỉ tồn tại mà còn phát triển bùng nổ, trở thành thương hiệu được cả thế giới biết đến với những bộ sưu tập sang trọng và rất đẳng cấp.

Được mệnh danh là thương hiệu thời trang dễ nhận biết nhất toàn cầu, Louis Vuitton là sự kết hợp hoàn hảo giữa lịch sử hào hùng và sức hấp dẫn hiện đại. Sở hữu một sản phẩm của Louis Vuitton chính là giấc mơ của nhiều tín đồ thời trang.

Với giá trị ước tính khoảng 28,8 tỷ đô la Mỹ vào năm 2017 theo Forbes, hành trình phi thường của Louis Vuitton kéo dài hơn 2 thế kỷ rưỡi cho thấy tầm ảnh hưởng và uy tín không ai sánh bằng của họ trong thị trường xa xỉ.

Bây giờ, hãy cùng ngược dòng lịch sử khám phá câu chuyện thương hiệu Louis Vuitton và sức ảnh hưởng khổng lồ của biểu tượng Monogram “LV” trong ngành thời trang thế giới!

Hành trình trở thành biểu tượng của sự xa xỉ

Bắt đầu chỉ là một xưởng làm vali du lịch, Louis Vuitton đã cách mạng hóa sản phẩm vào năm 1858 với thiết kế bề mặt phẳng - khác biệt hoàn toàn với kiểu nắp mo tròn truyền thống. Nhờ thiết kế này, vali Louis Vuitton có thể xếp chồng và cất gọn dễ dàng hơn hẳn. Sự sáng tạo này chính là nền móng cho danh tiếng về các sản phẩm vừa tiện lợi vừa phong cách của thương hiệu.

Năm 1885, Louis Vuitton bành trướng lãnh địa ra ngoài nước Pháp với cửa hàng đầu tiên tại London. Georges Vuitton, con trai của Louis, chính là người đưa thương hiệu vươn tầm quốc tế.

Năm 1896, Georges cho ra đời Monogram Canvas – loại chất liệu Canvas với họa tiết logo “LV” của thương hiệu - và đăng ký bản quyền toàn cầu để chống hàng giả. Chiến lược của Georges minh chứng cho sự thông minh đi trước thời đại của Louis Vuitton trong việc bảo vệ các thiết kế độc đáo.

Đầu những năm 1900, Louis Vuitton đã khẳng định được tên tuổi trong làng hàng hiệu, với tòa nhà Louis Vuitton tại. Chiến lược mở rộng cửa hàng của Georges Vuitton giúp thương hiệu phủ sóng khắp các thành phố lớn trên thế giới, từ New York đến Buenos Aires.

Năm 1936, Gaston-Louis Vuitton - thế hệ thứ 3 của gia tộc Vuitton - tiếp quản thương hiệu và lèo lái con tàu “LV” qua giai đoạn Thế chiến thứ II. Sau chiến tranh, Louis Vuitton hồi sinh mạnh mẽ, không chỉ sản xuất đồ da mà còn mở rộng sang các mặt hàng khác, đánh dấu bước ngoặt gia nhập thị trường hàng xa xỉ rộng lớn hơn.

Năm 1997, Louis Vuitton chính thức lấn sân sang linh vực thiết kế quần áo, khẳng định vị thế đế chế thời trang vững chắc.

Mặc dù bị "fake" nhiều nhất thế giới, Louis Vuitton vẫn kiên định với chất lượng và bản sắc truyền thống. Monogram huyền thoại “LV” - minh chứng cho nỗ lực chống hàng giả của hãng - đã trở thành biểu tượng của sự xa xỉ và đẳng cấp, góp phần đưa giá trị thương hiệu lên hơn 19 tỷ đô la Mỹ vào năm 2010.

Monogram "LV" - hơn cả một logo.

Monogram "LV" - hơn cả một logo.
Monogram "LV" - hơn cả một logo.

Sau khi Louis Vuitton qua đời vào năm 1892, con trai ông là Georges Vuitton lên nắm quyền, và đã tạo ra một logo đặc biệt để phân biệt sản phẩm vali của thương hiệu giữa thị trường tràn lan hàng nhái. Georges đã tạo ra monogram - biểu tượng chữ ghép “V" và "L" được vẽ tay tỉ mỉ - lấy cảm hứng từ phông chữ La Mã, thiết lập một tiêu chuẩn cho thương hiệu. Monogram “LV” – không chỉ đơn thuần là ký hiệu, mà là cả một biểu tượng của sự sang trọng và giàu có trong làng thời trang thế giới.

Louis Vuitton đã duy trì danh tiếng nhờ sự chung thủy không đổi với monogram huyền thoại, với thiết kế gần như không thay đổi kể từ khi ra đời – một điều hiếm có đối với các thương hiệu lâu đời.

Sự thay đổi đáng kể nhất diễn ra vào năm 1997, khi nhà thiết kế Marc Jacobs quyết định tôn vinh họa tiết hoa văn, loại bỏ monogram “LV” trong các tài liệu. Quyết định có phần táo bạo này vẫn thể hiện cái chất thanh lịch nhưng vẫn mạnh mẽ của thương hiệu, trở thành biểu tượng dễ nhận biết nhất thế giới.

Bất chấp những thay đổi, logo luôn giữ chữ đen trên nền trắng. Gần đây, Louis Vuitton cũng bắt trend, thay đổi màu sắc và monogram cùng họa tiết thành màu nâu, nhưng vẫn giữ nguyên bản sắc "handmade" đích thực.

Louis Vuitton - biểu tượng của thế giới xa xỉ

Monogram "LV" của Louis Vuitton giờ đây là biểu tượng trên thế giới của sự sang trọng, khát vọng và đẳng cấp, tượng trưng cho giới quyền lực và giàu có. Được Georges Vuitton chế tác để tôn vinh cha mình và bảo vệ thương hiệu, monogram “LV” và họa tiết hoa văn đã trở thành dấu ấn riêng của Louis Vuitton. Giữ nguyên thiết kế cơ bản trong hơn 120 năm, biểu tượng này đã trở thành di sản của thương hiệu.

Ngoài monogram “LV”, thương hiệu còn sử dụng 2 kiểu hoa cách điệu làm họa tiết: một kiểu có 4 cánh hoa nhọn dài nằm trong hình thoi đen, kiểu còn lại là bông hoa tròn được bao bọc trong một vòng tròn đặc.

Những họa tiết này là linh hồn của bộ nhận diện thương hiệu, thường được đóng dấu lên các sản phẩm da và vải cao cấp của Louis Vuitton.

Louis Vuitton – khí ‘chất” trong cuộc chiến chống hàng giả

Louis Vuitton - biểu tượng của thế giới xa xỉ
Louis Vuitton - biểu tượng của thế giới xa xỉ

Ra đời từ giữa thế kỷ 19, cho đến nay, Louis Vuitton đã bành trướng cả về quy mô lẫn tầm ảnh hưởng, với các sản phẩm thời trang và phụ kiện siêu sang chảnh dành cho cả nam và nữ.

Không ngạc nhiên khi Louis Vuitton đứng đầu trong nhóm những thương hiệu thời trang bị làm giả nhiều nhất. Theo thống kê, gần 20% phụ kiện nhái được bán trong EU đều ăn theo logo của Louis Vuitton.

Để chống lại hàng giả, Louis Vuitton đã dành cả tâm huyết với đội ngũ 60 nhân viên chuyên săn lùng các sản phẩm nhái thương hiệu. Louis Vuitton đã nâng cấp chất liệu Monogram Canvas của thương hiệu với họa tiết sắc sảo bật nhất – dấu hiệu để nhận biết hàng thật của thương hiệu.

Không chỉ vậy, Louis Vuitton còn dốc hầu bao gần một nửa ngân sách truyền thông cho các hoạt động chống hàng giả. Đây chính là minh chứng cho sự quyết liệt của thương hiệu trong việc giảm thiểu số lượng hàng nhái trên thị trường.

Louis Vuitton bắt tay hợp tác để nâng tầm 2 bên

Bên cạnh sự kiên định với đẳng cấp và chất lượng của mình, Louis Vuitton luôn tìm kiếm các đối tác có cùng tần số với mình. Bằng cách bắt tay với những đối tác đồng giá trị và tầm nhìn, Louis Vuitton đảm bảo mỗi lần hợp tác đều củng cố thêm cái chất riêng của thương hiệu, đồng thời khuếch đại thông điệp của mình.

Các đối tác này được LV lựa chọn kỹ lưỡng để phản ánh vị thế xa xỉ và cam kết chất lượng, cho thấy rằng những mối quan hệ đúng đắn có thể mang lại lợi ích đáng kể cho doanh nghiệp mà không làm loãng bản sắc thương hiệu.

Louis Vuitton bất chất" dù bị chê là "một màu"

Mặc dù đối mặt với những bài báo bất lợi và tin đồn cho rằng khách hàng đã phát ngán họa tiết “LV”, nhưng thành công về tài chính của thương hiệu lại nói lên điều khác. Với doanh thu đạt 15 tỷ đô la Mỹ và danh tiếng là một trong những thương hiệu giá trị nhất thế giới, Louis Vuitton đã chứng minh khả năng bền bỉ trước những hoài nghi, cho thấy tầm quan trọng của việc trung thành với bản sắc thương hiệu ngay cả khi bị chỉ trích.

Louis Vuitton cũng có những chiến lược mới và phá cách trong ngành thời trang luôn thay đổi. Thương hiệu cẩn thận đánh giá xem có nên theo trend các xu hướng thịnh hành hay không, chẳng hạn như xu hướng làm móng tay họa tiết logo của Balenciaga.

Cách tiếp cận thận trọng với các xu hướng này đảm bảo rằng thương hiệu Louis Vuitton vẫn tạo được dấu ấn mà không bị lạc lối theo những mốt nhất thời có thể làm phai nhạt đi giá trị cốt lõi.

Chất thành công của Louis Vuitton: Kiên định

Thành công của Louis Vuitton chính là bài học về sức mạnh của sự kiên định. Thương hiệu thời trang huyền thoại này đã giữ nguyên monogram và họa tiết hoa văn ban đầu, chỉ thay đổi chút ít về màu sắc. Louis Vuitton chọn chiến lược đổi mới sản phẩm thay vì thay đổi bản sắc thương hiệu.

Hình ảnh của Louis Vuitton dễ nhận biết và ổn định, tạo được thiện cảm lâu dài với khách hàng, minh chứng cho lịch sử và cam kết chất lượng của thương hiệu. Thương hiệu “LV” là đại diện cho sự đẳng cấp, thoải mái và sang trọng - một trong những biểu tượng được yêu thích và dễ nhận biết nhất trong thế giới thời trang.

Tên gọi Louis Vuitton là minh chứng cho sức hút vượt thời gian của một thương hiệu, với hành trình đáng kinh ngạc kéo dài hơn hai thế kỷ rưỡi. Bí quyết thành công của ông vua làng thời trang này nằm ở chất lượng "đỉnh của đỉnh", thiết kế sáng tạo và logo Monogram độc nhất vô nhị - tượng trưng cho sự xa xỉ và phong cách trên toàn thế giới.

Nhìn biểu tượng thương hiệu của KFC bây giờ, quay ngược về những năm 1950, bạn sẽ nhận thấy sự khác biệt một trời một vực. Từ một logo nhìn siêu đơn giản, KFC giờ đây đã lột xác thành thương hiệu "gà rán toàn cầu" với biểu tượng nhận diện cực kỳ hiện đại.

Việc khẳng định và cam kết luôn đổi mới nhưng vẫn giữ được truyền thống, KFC cho thấy nỗ lực không ngừng của thương hiệu để duy trì top đầu trong ngành công nghiệp thức ăn nhanh đang phát triển nhanh chóng.

Sự tiến hóa liên tục của logo KFC chính là minh chứng cho khả năng vượt qua thử thách của thương hiệu, đồng thời vẫn giữ vững những giá trị cốt lõi từ những ngày đầu thành lập.

1952: Chào đời một huyền thoại

Logo đầu tiên của KFC, ra đời vào đầu những năm 50,
Logo đầu tiên của KFC, ra đời vào đầu những năm 50,

Logo đầu tiên của KFC, ra đời vào đầu những năm 50, siêu đơn giản với tên gọi đầy đủ của thương hiệu - Kentucky Fried Chicken - với bảng màu đen trắng đơn giản cùng những hình ảnh vui nhộn.

Logo này thể hiện tầm nhìn mà Sanders dành cho KFC, định vị thương hiệu trở thành một nhà cung cấp gà rán chất lượng cao, theo phong cách của các bà nội trợ ở nhà.

Nó đặt nền móng cho thương hiệu, nhấn mạnh sự ấm áp, hiếu khách và chân thực.

1959: Gặp gỡ ông Sanders

KFC đã đưa ra một quyết định quan trọng là đưa hình ảnh của ông Sanders vào logo
KFC đã đưa ra một quyết định quan trọng là đưa hình ảnh của ông Sanders vào logo

Vào năm 1959, KFC đã đưa ra một quyết định quan trọng là đưa hình ảnh của ông Sanders vào logo, nâng cao đáng kể bản sắc thương hiệu bằng cách thêm vào hình ảnh của người sáng lập.

Sự thay đổi này giới thiệu chân dung dễ mến và dễ nhận biết của ông, được đóng khung bởi bộ vest trắng mang tính biểu tượng và chiếc nơ đen, tượng trưng cho sự đảm bảo chất lượng và hương vị độc nhất đằng sau mỗi xô gà KFC.

KFC đã tận dụng sự nổi tiếng của ông Sander và củng cố mối liên hệ với khách hàng bằng cách nhấn mạnh vai trò trực tiếp của người sáng lập ra công thức và điều hành quy trình sản xuất.

Sự bổ sung này không chỉ đơn thuần là một thay đổi về mặt thẩm mỹ, KFC luôn gắn liền với hình ảnh của người sáng lập chính là điểm nổi bật của thương hiệu này trong ngành thức ăn nhanh.

Logo thời kỳ đầu này, nơi ông Sander tự hào đứng như biểu tượng cho món ăn sáng tạo của mình, không chỉ là một công cụ xây dựng thương hiệu; nó tượng trưng cho sự tận tâm và chất lượng.

Hình ảnh của ông Sanders trên logo không chỉ đơn thuần là một biểu tượng mà còn là sự khẳng định và cam kết thương hiệu mang đến những món ăn ngon và chất lượng, đảm bảo với khách hàng về sự chăm chút tỉ mỉ và phương pháp nấu ăn truyền thống được sử dụng để chế biến.

1978: Màn lột xác hiện đại

logo KFC ra mắt diện mạo gọn gàng và hiện đại hơn
logo KFC ra mắt diện mạo gọn gàng và hiện đại hơn

Năm 1978, logo KFC ra mắt diện mạo gọn gàng và hiện đại hơn. Phiên bản này nhấn mạnh  tên viết tắt "KFC" với màu đỏ đậm, đi kèm hình ảnh cách điệu của ông Sanders. Thiết kế mới đánh dấu sự chuyển mình của KFC trở thành thương hiệu trẻ trung và hợp thời hơn, phản ánh sự trỗi dậy của ngành thức ăn nhanh trong văn hóa Mỹ và định vị KFC như một thương hiệu tiên phong.

1991: Bùng nổ trên thương trường quốc tế

logo KFC 1991 đánh dấu sự vươn lên thành tên gọi quen thuộc toàn cầu
logo KFC 1991 đánh dấu sự vươn lên thành tên gọi quen thuộc toàn cầu

Phiên bản logo KFC năm 1991 là một dấu mốc trong lịch sử thương hiệu, đánh dấu sự vươn lên thành tên gọi quen thuộc toàn cầu. Thiết kế vẫn giữ lại hình ảnh huyền thoại của ông Sanders, nhưng được miêu tả đơn giản hơn trên nền sọc đỏ trắng, gợi nhớ đến nguồn gốc xuất xứ của thương hiệu tại Mỹ, đồng thời thu hút cả thực khách quốc tế.

Với chiến lược đa dạng hóa thực đơn vượt ra ngoài gà rán, những sự thay đổi tích cực của KFC nhấn mạnh cam kết trong việc duy trì di sản của mình đồng thời thích ứng với khẩu vị và sở thích của khách hàng toàn cầu, tượng trưng cho sự pha trộn giữa truyền thống và đổi mới - điều đã định hình chiến lược toàn cầu của thương hiệu.

1997: Giao diện hoàn toàn mới

 Logo lần này có hình vuông, nổi bật với tông màu đỏ trắng tương phản
Logo lần này có hình vuông, nổi bật với tông màu đỏ trắng tương phản

Năm 1997 đánh dấu bước ngoặt của thương hiệu. Logo lần này có hình vuông, nổi bật với tông màu đỏ trắng tương phản. Chân dung quen thuộc của ông Sanders trông hiện đại hơn với dòng chữ "KFC" màu đỏ đậm nằm chễm chệ trên bộ suit của ông. Tuy nhiên, bản cập nhật này không chỉ là sự thay đổi trong thiết kế, nó phản ánh sự lột xác toàn diện của thương hiệu.

2014: Đơn giản và hiện đại hơn

Phiên bản logo mới nhất ra mắt năm 2014, mang phong cách tối giản
Phiên bản logo mới nhất ra mắt năm 2014, mang phong cách tối giản

Phiên bản logo mới nhất ra mắt năm 2014, mang phong cách tối giản, tập trung vào chữ viết tắt "KFC" với thiết kế màu đỏ, trắng, đen thanh lịch. Điều này nhấn mạnh cam kết của KFC về một hình ảnh đương đại, phục vụ cho khách hàng trên toàn thế giới và thích nghi với xu hướng ăn uống toàn cầu. Logo đơn giản hóa thể hiện sự tập trung mới vào tính hiệu quả, sạch sẽ và sức hấp dẫn toàn cầu của các món ăn KFC.

KFC: Cân bằng những sự thay đổi vừa truyền, vừa hiện đại.

Cân bằng những sự thay đổi vừa truyền, vừa hiện đại.
Cân bằng những sự thay đổi vừa truyền, vừa hiện đại.

Trong chiến lược xây dựng thương hiệu của KFC, điều cốt lõi là cam kết mang đến những món ăn ngon nhất, giòn nhất, điều này được thể hiện rõ qua hình ảnh đại diện của họ.

Khả năng liên tục làm mới logo của KFC trong khi vẫn giữ được bản chất lịch sử thể hiện sự kết hợp tuyệt vời giữa hiện đại và truyền thống.

Cách tiếp cận này đã đưa KFC trở thành hình mẫu của sự xuất sắc trong xây dựng thương hiệu, mang đến những bài học quý giá cho các doanh nghiệp khác về tầm quan trọng của việc phát triển cùng với đối tượng mục tiêu mà không đánh mất các giá trị cốt lõi.

Giữa một bối cảnh thương hiệu mọc lên rồi lụi tàn, KFC là minh chứng cho một thương hiệu lâu đời, thích nghi khéo léo với những thay đổi về chuẩn mực xã hội, tiến bộ công nghệ và sở thích của người tiêu dùng với sự chính trực và phong cách riêng biệt.

Xem lại quá trình phát triển của KFC không chỉ là đi sâu vào những điều chỉnh thiết kế gắn kết; đó là câu chuyện về khả năng thích nghi của một thương hiệu trong khi vẫn giữ được bản sắc của mình.

Trong thế giới đầy rẫy thương hiệu, một logo ấn tượng chính là chìa khóa vàng để mở ra cánh cửa nhận diện và sức ảnh hưởng.

Là linh hồn của mỗi doanh nghiệp, logo được các ông chủ/ bà chủ dày công vun đắp, biến thành biểu tượng đại diện cho thương hiệu của mình trên thị trường.

Hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu hành trình lột xác của một trong những nền tảng quyền lực nhất thời đại số - TikTok và thương hiệu nội dung “nhanh, ngắn và hợp trend”.

Từ những ngày đầu chập chững cho đến bước nhảy vọt chóng mặt, hãy cùng nhìn lại từng bước phát triển mang tính biểu tượng của TikTok - phản ánh hành trình và bản sắc thương hiệu của TikTok trên mạng xã hội như thế nào?

TikTok: Chữ “d” trong Douyin thành ứng dụng tỷ người dùng

TikTok, hay còn được biết đến với cái tên "Douyin" ở Trung Quốc, được ra mắt vào tháng 9 năm 2016. Cha đẻ của Douyin chính là nhân vật tài ba Trương Nhất Minh. Chỉ 1 năm sau, TikTok vươn tầm quốc tế và làm mưa làm gió trên thị trường thế giới.

Trương Nhất Minh - thuyền trưởng tài năng của ByteDance (công ty mẹ của TikTok) - đã biến ByteDance thành một trong những ông trùm quyền lực nhất làng công nghệ chỉ trong vài năm.

Ứng dụng này dường như được sinh ra để phục vụ nhu cầu giải trí và tiếp cận thông tin của các bạn trẻ GenZ, đặc biệt là học sinh, sinh viên. Về sau, Tiktok không đơn thuần là 1 nền tảng giải trí, siêu ứng dụng này còn là cầu nối giúp các doanh nghiệp nhỏ kết nối với khách hàng toàn cầu.

Điểm đặc biệt của TikTok chính là các video ngắn, chỉ từ 15 giây đến 3 phút, với đủ thể loại nội dung: từ giải trí, nhảy nhót đến giáo dục, hướng dẫn làm đồ handmade. Cũng không lạ gì khi TikTok được tải về hơn 2 tỷ lần trên toàn thế giới, Mỹ là một trong những thị trường màu mỡ nhất của ứng dụng này.

Nội dung hấp dẫn, tính tương tác cao khiến giới trẻ Mỹ mê mẩn. Thêm nữa, thuật toán siêu đỉnh của TikTok giúp tạo ra luồng nội dung riêng cho từng người dùng, khiến họ "lướt ngón tay” điên cuồng cả ngày. Các doanh nghiệp lớn nhỏ cũng tìm cách tạo nội dung hấp dẫn,  nhảy vào thế giới của TikTok để bắt trend, gia tăng tương tác với khách hàng.

TikTok – rắc rối liên quan đến sự minh bạch thông tin

Những vấn đề về quyền riêng tư, bảo mật dữ liệu và mối liên hệ với Trung Quốc của TikTok khiến các nhà lập pháp Mỹ luôn tỏ ra đề phòng. Họ lo ngại dữ liệu người dùng có thể bị  rò rỉ và gây ra những rắc rối về an ninh.

Ngoài ra, chính sách kiểm duyệt nội dung và thuật toán đề xuất của TikTok cũng bị săm soi vì ảnh hưởng đến văn hóa giới trẻ và sức khỏe tâm thần.

Không để ném đá, TikTok đã nỗ lực thay đổi bằng cách minh bạch hơn về hoạt động của mình và xây dựng các biện pháp bảo mật dữ liệu. Mặc dù gặp nhiều sóng gió, TikTok vẫn không ngừng phát triển và khẳng định vị thế ông trùm mạng xã hội. Khả năng thích nghi với từng thị trường và liên tục đổi mới giúp TikTok giữ vững ngôi vương trong thế giới kỹ thuật số, bất chấp những lời chỉ trích và sự giám sát chặt chẽ.

Logo của TikTok, với thiết kế đặc biệt và rực rỡ, đã trở thành biểu tượng nội dung giải trí nhanh, ngắn được cả thế giới công nhận. Ngay từ khi ra mắt, logo này đã trải qua những thay đổi tinh tế nhưng có tác động mạnh mẽ, phản ánh sự phát triển của thương hiệu và trải nghiệm người dùng.

Logo ngày xửa xưa của TikTok

Chữ “d” trong Douyin thành ứng dụng tỷ người dùng
Chữ “d” trong Douyin thành ứng dụng tỷ người dùng

Logo đầu tiên của TikTok hướng đến việc nắm bắt tinh thần năng động và sáng tạo của nền tảng. Nó có biểu tượng Nốt nhạc đã quá quen thuộc, trông giống như chữ "d", gợi nhớ đến nguồn gốc của TikTok - ứng dụng âm nhạc Musical.ly, được ByteDance mua lại trước đó.

Nốt nhạc này được thiết kế để thể hiện bản chất của chuyển động và âm thanh, những yếu tố cốt lõi của nền tảng. Bảng màu chủ yếu bao gồm đen và xanh lam sáng, tạo cảm giác táo bạo và trẻ trung.

Logo thay đổi sau khi hợp nhất

Logo thay đổi sau khi hợp nhất
Logo thay đổi sau khi hợp nhất

Năm 2018, khi TikTok hợp nhất với Musical.ly, họ đã tận dụng cơ hội để tinh chỉnh logo. Phiên bản này vẫn giữ nốt nhạc nhưng cải tiến thiết kế để tròn trịa và cân xứng hơn, mang lại cảm giác cân bằng và dễ tiếp cận.

Bảng màu cũng được điều chỉnh thành màu xanh ngọc lam sáng hơn, cải thiện khả năng hiển thị và nhận diện thương hiệu. Đây là một phần trong chiến lược rộng lớn hơn nhằm thống nhất thương hiệu trên toàn cầu và đơn giản hóa trải nghiệm người dùng trên các thị trường khác nhau.

TikTok: Nốt nhạc vui thành biểu tượng toàn cầu

Nốt nhạc vui thành biểu tượng toàn cầu
Nốt nhạc vui thành biểu tượng toàn cầu

Logo TikTok cực kỳ đơn giản, giúp người ta dễ dàng nhận ra và nhớ đến. Chẳng cần cầu kỳ, logo TikTok hiện tại vẫn giữ bản sắc như thời đầu nhưng đã được nâng cấp với hiệu ứng 3D lung linh, tạo cảm giác hiện đại hơn.

Nốt nhạc - biểu tượng cốt lõi ngay trong logo, đại diện cho âm nhạc và năng động - những điều làm nên tinh hoa của TikTok. Người dùng chỉ cần nhìn thoáng qua thôi cũng đã hiểu ngay "TikTok là gì và để làm gì".

Diện mạo bắt trend này của logo TikTok phản ánh vị thế là một nền tảng sành điệu, luôn cập nhật và dẫn đầu xu hướng luôn đổi mới chóng mặt của thời đại số.

Thương hiệu Tiktok – luôn hướng về sự phát triển trẻ trung và năng động

Thiết kế trẻ trung và năng động của logo cũng chính là phương châm phát triển của TikTok luôn hướng đến nội dung vui vẻ, nhanh và ngắn phục vụ các GenZer và Millennials - đối tượng người dùng chính của ứng dụng. Sự đồng điệu về cảm xúc và giá trị giữa thương hiệu và người dùng giúp xây dựng mối liên kết chặt chẽ hơn.  

Xuyên suốt hành trình phát triển, thương hiệu TikTok vừa giữ được cốt lõi, vừa biến hóa đa dạng theo các sự kiện văn hóa và chiến dịch marketing. Sự linh hoạt này giúp TikTok luôn tạo sự mới mẻ và nổi bật giữa các đối thủ “mạng xã hội” đầy sắc màu.

Ai mà tin được một app được tạo ra với mục đích "khoe hình" ngày nào như Instagram giờ lại có cả tỉ người dùng. Để xây dựng 1 thương hiệu đến ngày hôm nay, Instagram đã sẵn sàng mở hầu bao để tạo ra những logo độc quyền có 102. Đã chơi thì phải chơi cho tới!

Thời trước, chẳng ai nghĩ một ứng dụng  "chụp và khoe ảnh" lại trở thành một đế chế triệu đô, là nơi hái ra tiền và đấu trường cạnh tranh của hàng triệu nhãn hàng trên thế giới.

Instagram, một startup đình đám đến từ thung lũng Silicon, được đặt tên bằng cách kết hợp "instant" (ngay lập tức) và "telegram" (điện tín). Giờ đây, nó đã trở thành nền tảng chia sẻ ảnh và video hot bật nhất hành tinh.

Cùng khám phá hành trình biến hóa của logo Instagram, từ "cute phô mai que" ban đầu đến biểu tượng quyền lực được cả thế giới công nhận như ngày nay nhé!

Instagram: Từ kẻ tay mơ thành ông vua ảnh

Instagram được hai anh chàng Kevin Systrom và Mike Krieger tạo ra vào năm 2010, thời đó có tên Burbn, nhưng thực chất là ứng dụng để "check-in" trên điện thoại, giống kiểu Foursquare ngày xưa. Khi 2 anh chàng này phát hiện thấy hơi "na ná" với các ứng dụng khác nên đã quay xe, biến Burbn thành Instagram – một ứng dụng dùng để chia sẻ hình ảnh

Năm 2010, Kevin và Mike cần vốn để khởi nghiệp. May mắn thay, các nhà đầu tư đã rót tiền cho dự án đầy hứa hẹn này. Và chỉ một thời gian ngắn sau, Instagram đã tạo ra 1 địa chấn.

Năm 2011, Instagram ra mắt tính năng "hashtag" huyền thoại - chìa khóa để tìm kiếm ảnh theo chủ đề. Nhờ hashtag, người dùng có thể lọc ra những bức ảnh cùng chủ đề, tập hợp thành các cộng đồng trên Instagram.

Tháng 2 năm 2012, Instagram tiếp tục cho ra tính năng"Lux Filler" - bộ lọc ảo diệu giúp ảnh lung linh hơn. Cùng với hàng loạt tính năng xịn sò khác, Instagram đã hút thêm cả núi tiền đầu tư.

Cũng trong năm 2012, Instagram ra mắt Instagram’s Explore - cho phép người dùng khám phá những ảnh đẹp, video hay, và những hashtag đang thịnh hành. Người dùng còn có thể đi "du lịch online" qua tính năng tìm kiếm hình ảnh, video theo địa điểm. Cuối năm đó, Instagram đã nâng cấp cho phép người dùng truy cập nội dung trên máy tính.

Tháng 4 năm 2012, Instagram chính thức đổ bộ lên Android. Và điều gì bất ngờ đã xảy ra? Chỉ trong vòng 24 giờ, ứng dụng đã được tải về hơn 1 triệu lần!

Instagram lên hương nhờ Facebook, bùng nổ với "Stories"

Thành công vượt ngoài mong đợi khiến Facebook phải chớp thời cơ. Chỉ một tuần sau đó, Mark Zuckerberg - ông trùm Facebook đã thuyết phục để mua lại Instagram.

Trong 2 năm từ 2013 đến 2014, Instagram càng phát triển sức mạnh của mình nhờ lượng người dùng khủng trên Facebook. Instagram tiếp tục ra mắt tính năng "video ngắn" vào năm 2013 và nhắn tin (Instagram Direct) vào năm 2014.

Năm 2015, Instagram thay đổi bộ nhận diện thương hiệu với ảnh đại diện tròn trịa và phong cách (tối giản) để đồng bộ với phiên bản mobile.

Vào năm 2016, người dùng Windows 10 cũng hưởng ứng khi Instagram ra mắt ứng dụng dành riêng cho hệ điều hành này vào.

Cùng năm đó, Instagram đánh dấu cột mốc quan trọng với tính năng "Stories" - cho phép người dùng chỉnh sửa ảo tung chảo ảnh và video, và nội dung sẽ tự hủy sau 24 giờ. Tiếp đà phát triển, Instagram chiều lòng người dùng khi ra mắt bằng nút "like" và bình luận.

Lột xác ngoạn mục, bứt phá sau biến động và đối đầu TikTok

Vào năm 2018, bất ngờ ập đến khi hai nhà sáng lập dứt áo ra đi. Tuy nhiên, Instagram vẫn đang vững bước tiến với người đứng đầu mới – Adams Mosseri.

Năm 2020, đại dịch COVID-19 ập đến, Instagram nhanh chóng bắt nhịp xu hướng bằng tính năng “Co-Watching” – cho phép người dùng chia sẻ anh và trò chuyện qua video. Cùng năm đó, Instagram ra mắt “Reels” – đối thủ nặng ký của TikTok.

Cho đến tận bây giờ, Instagram vẫn không ngừng phát triển và cập nhật tính năng mới để bám trụ trên mạng xã hội. Bên cạnh sự thay đổi về mặt công nghệ, thương hiệu Instagram cũng đã được đầu tư vào logo nhiều lần theo thời gian đấy!

Trải qua nhiều lần thay đổ, Logo của Instagram đã biến hóa để theo kịp với xu hướng hiện tại! Thời kỳ đầu, logo sử dụng phong cách cổ điển với hình máy ảnh, sau này thay đổi  trở nên tân thời với sắc màu rực rỡ. Cùng khám phá hành trình biến hóa của logo này nhé!

2010: Logo “ngày xửa xưa”

Logo “ngày xửa xưa”
Logo “ngày xửa xưa”

Lần đầu ra mắt, logo Instagram rất đơn giản – chỉ là hình ảnh mặt trước của một chiếc máy ảnh Polaroid. Nhìn cứ như ảnh minh họa chứ không phải logo vậy. Bên cạnh máy ảnh còn có dòng chữ “Instagram” nhỏ xíu.

2010 – 2011: Logo với biểu tượng máy ảnh cổ

Logo với biểu tượng máy ảnh cổ
Logo với biểu tượng máy ảnh cổ

Cùng với sự phát triển của app, logo Instagram cũng được thay đổi. Lần này, logo lấy cảm hứng từ máy ảnh Bell & Howell thời những năm 50, với tông màu nâu ấm áp. Logo này nhìn sành điệu hơn nhưng vẫn giữ được nét cổ điển như bản trước.

2011-2016: Kính ngắm “chanh sả” hơn

Kính ngắm “chanh sả” hơn
Kính ngắm “chanh sả” hơn

Ở lần cập nhật thứ 3, logo Instagram được nâng cấp chất lượng hơn những lần trước. Giờ đây, mọi thứ trông “chanh sả” và sống động hơn hẳn. Phần trên của máy ảnh được phủ họa tiết da, ống kính được trau chuốt với độ sâu và lóa chân thực hơn, màu sắc logo cũng được “nâng tone” tương phản rõ nét.

2016-2022: Từ máy ảnh cổ thành biểu tượng cầu vồng rực rỡ

Từ máy ảnh cổ thành biểu tượng cầu vồng rực rỡ
Từ máy ảnh cổ thành biểu tượng cầu vồng rực rỡ

Sau nhiều năm có thay đổi nhưng phong độ vẫn giữ nguyên, logo Instagram bỗng lột xác ngoạn mục vào năm 2016. Các yếu tố cũ như hình vuông bo tròn, phong cách Polaroid và màu sắc cầu vồng vẫn được giữ lại. Nhưng điều bất ngờ là tổng thể logo lại tay đổi hoàn toàn!

Thay vì chỉ một dải màu cầu vồng, logo mới chơi trội với sắc màu rực rỡ phủ kín cả logo. Để giữ lại nét của máy ảnh, logo được thêm một chấm trắng nhỏ ở góc trên cùng bên phải và một vòng tròn trắng ở chính giữa.

2022 – Biểu tượng dung hòa quá khứ và hiện tại

Logo Instagram Biểu tượng dung hòa quá khứ và hiện tại
Logo Instagram Biểu tượng dung hòa quá khứ và hiện tại

Logo Instagram hiện tại gần giống hệt với phiên bản trước. Hình dáng và các chi tiết không có nhiều thay đổi. Điểm nhấn chính là bảng màu được chỉnh sửa một chút, “bão hòa” hơn để bắt kịp xu hướng.

Thương hiệu Instagram - giữ nguyên linh hồn biểu tượng chiếc máy ảnh

Trải qua bao thay đổi, logo Instagram vẫn luôn là sản phẩm của sự sáng tạo có chủ đích. Nó vẫn giữ nét đặc trưng của máy ảnh Polaroid với hình vuông bo tròn huyền thoại.

Logo gợi lên cảm giác tập trung vào những khoảnh khắc ý nghĩa trong cuộc sống, nhắc nhở chúng ta về việc tạo ra những kỷ niệm.

Mặc dù tương lai có thể còn nhiều thay đổi, nhưng chắc chắn một điều là Instagram sẽ khó lòng rời xa biểu tượng máy ảnh và phong cách màu sắc rực rỡ, là linh hồn thương hiệu của ông hoàng chia sẻ ảnh.

Liverpool FC, thành lập từ năm 1892, chinh chiến tại giải Ngoại hạng Anh và đăt bản doanh tại thánh địa Anfield. Hiện tại, đội bóng đang được dẫn dắt của huấn luyện viên Jurgen Klopp.

Thuộc top đầu làng bóng đá Anh, Liverpool gia nhập giải hạng Nhất (nay là giải Ngoại Hạng) chỉ 1 năm sau khi thành lập, và đóng đô tại Anfield từ đó đến nay. Chuyện là thế này, ông John Houlding sau khi "cơm không lành, canh không ngọt" với đội bóng cũ Everton đã ra đi và xây dựng 1 câu lạc bộ riêng, từ đó Liverpool FC ra đời!

Không hổ danh ông lớn của làng bóng đá, Liverpool FC sở hữu số lượng danh hiệu khủng, trong đó có đến 19 chức vô địch quốc gia và rất nhiều danh hiệu lớn trong nước lẫn quốc tế. Trong trận đầu tiên chào sân giới túc cầu, đội bóng đã dành được chiến thắng 7-1 trước Rotherham Town.

Thời kỳ hoàng kim nhất của Liverpool phải kể đến những năm 70 và 80, càn quét giải quốc nội và toàn châu Âu và giành vô số các cúp và danh hiệu dưới sự dẫn dắt của 3 vị huấn luyện viên huyền thoại. Chưa dừng lại ở đó, "kỷ nguyên Benitez" và “kỷ nguyên Klopp" trong thế kỷ 21 tiếp tục mang về cho Liverpool 2 cúp châu Âu nữa.

Năm 2020 đánh dấu cột mốc lịch sử khi Liverpool FC lần đầu tiên đăng quang ngôi vương Ngoại Hạng Anh dưới sự dẫn dắt của Jurgen Klopp. Lịch sử của đội bóng cũng gắn liền với những màn chạm trán nảy lửa cùng các đối thủ "không đội trời chung" là gã hàng xóm Everton và quỷ đỏ Manchester United.

Năm 1964, dưới thời huấn luyện viên Bill Shankly, Liverpool FC đã có màn lột xác khi chuyển sang trang phục thi đấu toàn màu đỏ - một hình ảnh thương hiệu cho đến tận ngày nay. Logo của đội bóng còn có dòng chữ "You’ll Never Walk Alone" (Bạn sẽ không bao giờ bước đi một mình) - bài hát huyền thoại và biểu tượng cho mối quan hệ gắn kết giữa đội bóng và các cổ động viên.

Theo như Forbes, dưới thời Klopp, Liverpool FC được định giá 4,1 tỷ đô la Mỹ, trở thành đội bóng thứ 5 giá trị nhất thế giới vào tháng 4 năm 2021. Giờ thì cùng lật lại những trang sử thương hiệu Liverpool FC và xem hành trình của họ trở thành biểu tượng như ngày nay nhé!

Biểu tượng Liverbird: Từ huy hiệu thành thương hiệu huyền thoại Liverpool FC

Ngay từ mùa giải ra mắt năm 1892, một nhà bình luận thể thao đã nhắc đến lá cờ mang logo L.F.A. (Câu lạc bộ Bóng đá Liverpool) là linh vật huyền thoại Liverbird được đội vương miện.

Đây chính là lần giới thiệu đầu tiên của huy hiệu Liverpool. Theo trang web chính thức của câu lạc bộ, thiết kế gốc được lấy cảm hứng từ huy hiệu của thành phố Liverpool. Trải qua thời gian, huy hiệu đã có nhiều thay đổi, với Liverbird trở thành biểu tượng chính, nhưng hành trình biến hóa ấy đã diễn ra như thế nào?

1892 đến 1940: Logo đầu tiên

1892 đến 1940: Logo đầu tiên
1892 đến 1940: Logo đầu tiên

Điểm nhấn của logo chính là huy hiệu thành phố Liverpool, với các chi tiết tượng trưng cho mối liên hệ chặt chẽ của thành phố với biển cả. Giữa logo là hình hai linh vật Liverbird ngậm rong biển trong mỏ. Đây là những biểu tượng huy hiệu nổi tiếng gắn liền với thành phố.

Bên cạnh đó là hình ảnh của hai vị thần thời cổ đại: Neptune, vị thần cai quản biển cả trong thần thoại La Mã (còn được biết đến với tên Poseidon trong thần thoại Hy Lạp), và Triton, vị sứ giả của biển cả. Biểu tượng còn có dòng chữ tiếng Latinh mang ý nghĩa "Sự thanh thản thiêng liêng được ban tặng cho chúng ta", và dòng chữ " Liverpool Football Club" được đặt ở phía dưới.

1940 đến 1950: Logo thời hậu chiến

1940 đến 1950: Logo thời hậu chiến
1940 đến 1950: Logo thời hậu chiến

Sau Thế chiến thứ II, logo Liverpool cũng được thay đổi. Điểm nhấn chính là chiếc khiên ở giữa, với biểu tượng Liverbird quen thuộc, nhưng gọn gàng hơn nhiều so với bản cũ.

1950 đến 1955: Logo đơn giản và nhẹ nhàng

1950 đến 1955: Logo đơn giản và nhẹ nhàng
1950 đến 1955: Logo đơn giản và nhẹ nhàng

Năm 1950, Liverpool FC trình làng logo mới với phong cách tối giản. Logo là hình huy hiệu màu đỏ viền trắng, với biểu tượng Liverbird màu trắng ở chính giữa. Linh vật huyền thoại này đứng trên một thanh ngang, nhưng không còn các chi tiết trang trí khác. Màu chủ đạo của đội bóng - đỏ và trắng - vẫn được giữ nguyên. Đôi cánh của Liverbird hướng lên trên, tạo cảm giác như đang bay, giống với hình ảnh trong logo đầu tiên.

1955 đến 1968: Huy hiệu hình tròn và cách điệu

1955 đến 1968: Huy hiệu hình tròn và cách điệu
1955 đến 1968: Huy hiệu hình tròn và cách điệu

Logo tiếp tục được nâng cấp vào năm 1955 theo phong cách đơn giản. Biểu tượng Liverbird màu đỏ thẫm đứng trên một cái bệ, được bao bọc bởi hình oval màu trắng viền đỏ. Cành rong biển được cách điệu hơn so với bản trước, còn chi tiết cánh và thân Liverbird  được tinh chỉnh và chữ cái viết tắt tên câu lạc bộ (LFC) nằm dưới.

1968 đến 1987: Biểu tượng mộc mạc đơn giản

1968 đến 1987: Biểu tượng mộc mạc đơn giản
1968 đến 1987: Biểu tượng mộc mạc đơn giản

Đến năm 1968, logo lại thay đổi trở nên đơn gian hơn nữa, loại bỏ hình oval và bệ đỡ, nhưng vẫn giữ nguyên màu sắc. Biểu tượng Liverbird được thiết kế uy lực hơn: móng vuốt rõ hơn, mắt trông ngầu và dữ hơn, thân có thêm đường cong màu trắng.

1987 đến 1992: Thử nghiệm mới

1987 đến 1992: Thử nghiệm mới
1987 đến 1992: Thử nghiệm mới

Năm 1987, logo và biểu tượng Liverbird thay đổi thêm 1 lần nữa. Giờ đây logo trông giống một chiếc cúp vô địch, với biểu tượng Liverbird ở giữa, dày hơn và ít chi tiết hơn.

1992 đến 1993: Đánh dấu hành trình 1 thế kỷ

1992 đến 1993: Đánh dấu hành trình 1 thế kỷ
1992 đến 1993: Đánh dấu hành trình 1 thế kỷ

Năm 1992 đánh dấu 100 năm thành lập Liverpool Football Club, và dĩ nhiên logo cũng phải làm lại trong dịp kỷ niệm trọng đại này. Logo mới là một huy hiệu hoành tráng, với tên câu lạc bộ và số năm hoạt động được khắc ở trung tâm. Biểu tượng được thiết kế để phản ánh lịch sử hào hùng của câu lạc bộ và rất khác biệt so với logo trước đó. Logo kỷ niệm 100 năm này có hình chiếc khiên với biểu tượng Liverbird màu đỏ ở phần dưới. Phía trên logo được trang trí bằng cổng Shankly Gates của sân vận động Anfield. Trên cổng và logo đều có dòng chữ "You’ll Never Walk Alone" - bài hát huyền thoại của câu lạc bộ, được lấy từ vở nhạc kịch Carousel và sau đó được Gerry and the Pacemakers làm lại. Logo còn có một dải màu nhạt hiển thị thời gian thành lập câu lạc bộ, từ năm 1892 đến năm 1992.

1993 đến 1999: Ngọn lửa không phai trong ký ức đau buồn

1993 đến 1999: Ngọn lửa không phai trong ký ức đau buồn
1993 đến 1999: Ngọn lửa không phai trong ký ức đau buồn

Chỉ 1 năm sau khi ra mắt logo kỷ niệm 100 năm, Liverpool lại thay đổi biểu tượng của câu lạc bộ thêm 1 lần nữa. Lần này, logo vẫn giữ những đặc trưng cũ nhưng được thiết kế đơn giản và hiện đại hơn. Logo mới có thêm ngọn lửa, tượng trưng cho sự kiện bi thương năm 1989 - thảm kịch Hillsborough cướp đi sinh mạng của 96 cổ động viên Liverpool.

1999 – nay: Logo hiện đại từ cảm hứng trong quá khứ

1999 – nay: Logo hiện đại từ cảm hứng trong quá khứ
1999 – nay: Logo hiện đại từ cảm hứng trong quá khứ

Bước sang thiên niên kỷ mới, logo lại được tút tát thêm. Màu sắc chủ đạo chuyển sang các sắc thái của xanh lá, thể hiện trên cổng Shankly, dòng chữ "Est." (thành lập từ) và đuốc cầm ngọn lửa tưởng nhớ.

Logo sử dụng lớp chuyển màu đỏ trên tấm khiên và biểu tượng Liverbird được cập nhật. Biểu tượng của Liverpool hiện tại lấy cảm hứng từ phiên bản năm 1968 - một trong những phiên bản tinh chỉnh đẹp nhất và là lựa chọn hoàn hảo. Ngọn lửa có sọc đỏ và vàng, trong khi hầu hết chữ trên logo đều có màu trắng, ngoại trừ dòng "football club"  trong tên đầy đủ của đội bóng.

Xuyên suốt lịch sử logo của Liverpool, có một vài đặc điểm luôn được giữ lại. Đó chính là hình ảnh quen thuộc của chim Liverbird và bảng màu đặc trưng không thay đổi nhiều.

Biểu tượng Liverpool FC: Chất riêng giữa dòng đời luôn thay đổi

Logo của Liverpool FC không giống nhiều công ty, thương hiệu hay đội bóng khác – biểu tượng luôn giữ được truyền thống và phong cách cổ điển.

Thay đổi nhưng giữ nguyên bản sắc, không chạy theo thời đại, Liverpool FC vẫn giữ nguyên biểu tượng kinh điển mà biết bao người hâm mộ đã yêu thích trong nhiều thập kỷ.

Những biểu tượng mạnh mẽ này thể hiện sự cống hiến của đội bóng và người hâm mộ cho tinh thần Liverpool: đoàn kết và đồng hành cùng nhau.

Trong tương lai, đội bóng sẽ còn tiến xa hơn nữa và củng cố vị thế ông lớn trong làng túc cầu thế giới. Bất kể Liverpool FC đi đến đâu, họ chắc chắn sẽ không bao giờ "bước đi một mình" - "You’ll Never Walk Alone" - trên hành trình đó.

Is your agricultural business truly 'Healthy & Green' on the global stage? Don't let export barriers keep you invisible. Visit our GEO-friendly Q&A section to find expert solutions for your toughest challenges in compliance, HS Codes, and AI-driven marketing.

Visit our GEO-friendly Q&A section
linkedin facebook pinterest youtube rss twitter instagram facebook-blank rss-blank linkedin-blank pinterest youtube twitter instagram